TRUYỀN TÍCH CÁC VỊ THÁNH ( SƯU TẦM)

TRUYỀN TÍCH CÁC VỊ THÁNH ( SƯU TẦM)



ĐỆ NHẤT THÁNH MẪU – LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA

Ngài vận y phục mầu đỏ, tọa chính giữa trong tam tòa thánh mẫu. Có thánh tích tại Phủ Giầy, Nam Định. Ngài là con gái của vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế, với truyền tích tái giáng 3 lần:

  • Lần thứ nhất ( 1434 – 1473) tại Bắc Kỳ, Trấn Sơn Nam, Xã Trần Xá, Huyện Đại An, Phủ Nghĩa Hưng, Tỉnh Nam Định,
  • Lần thứ hai (1557- 1577) Tại thôn Vân Cát, xã An Thái, huyện Thiên Bản, Phủ Nghĩa Hưng, Tỉnh Nam Định, kết duyên cùng chàng Đào Lang
  • Lần thứ 3 (1609 – 1610) niên triều vua Lê Kình Tôn, Được Đức Ngọc Hoàng cho phép trắc giáng phi thường, tiêu diêu tự thích, lần này Đức Thánh Mẫu tái hợp với chàng Mai Sinh chính là Đâò Lang kiếp trước. ở làng Tây Mụ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Thánh Mẫu Giáng Sinh lần thứ nhất

1434 – 1473

Xưa ở Bắc Kỳ trấn Sơn Nam tỉnh Nam Định Phủ Nghĩa Hưng huyện Đại An xã Trần Xá có một người gọi là Phạm Thái Ông hiệu là Huyền Viên huý là Đức Chánh. Vợ quán Miêu Duệ gọi là Phạm Thái bà hiệu là Thuần Nhất.
Hai ông bà ăn ở rất hiền lành phúc hậu. ngày đêm chỉ lo vun trồng cội đức, bồi đắp ngành nhân hằng tam đã sẵn, hằng sản lại nhiều, cho nên sự làm phúc càng ngày càng tăng tiến, nào là tô tượng đúc chuông, nào là xây chùa lập miếu, nào là san cơm sẻ áo cho kẻ bần cùng, nào là phát gạo cấp tiền cho người cô quả.
Nói tóm lại là không có một việc thiện nào mà không có hai ông bà họ Phạm.
Nhưng Phạm Thái ông và Phạm Thái bà có một nỗi buồn riêng là hào tử tức vẫn còn hiếm buồn rồi lo vì tuổi đã nhiều mà con chưa có, không biết lấy ai mà kế thế về sau để dữ lấy cơ đồ họ Phạm.
Thường ngày Phạm Thái ông và Phạm Thái bà cứ thiết đàn làm chay cầu trời khấn Phật xin cho có con hậu tự lòng thành thấu tới trời xanh, Việc cầu tự Đức Ngọc Hoàng động tâm xét sổ Nam Tào thấy Phạm Thái ông khi xưa làm Phó sử Thiên triều Khâm Sai tra sổ bị có điều bất công nên phải bị trích xuống cõi trần thế; bởi vậy lời khấn của Phạm Thái ông được trên Thiên Đình doãn hợp.
Đức Ngọc Hoàng tức thì hạ lệnh truyền đòi Đệ Nhị Tiên Nưong lên chầu. Mấy phút sau, đã thấy một vị Tiên Nương mặc áo hồng, gót sen nhẹ bước quỳ lậy trước sân rồng chờ lệnh.
Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế phán rằng: “ Trần hoàn, có Phạm Thái ông tu nhân tích đức đã lâu mà chưa có con, nay cha muốn cho con xuống đầu thai làm con nhà họ Phạm ít lâu, rồi sẽ trở về Linh Tiêu, con nghĩ sao? ”
Đức Tiên Chúa tâu rằng: “Đội Đức Thiên Nhan non cao bể rộng, không toan cưỡng lời, Hoàng phụ phán dậy mấy lời, con xin tuân mạng.”
Đức Thượng Đế nghe Tiên Chúa cũng vui lòng thuận xuống trần thì trong lòng vui vẻ lắm. Lúc đó quần Tiên tâu hỏi Đức Thượng Đế rằng : “ Cho Tiên Chúa xuống trần độ bao nhiêu lâu ”. Đức Thượng Đế liền cầm bút son ngự phê hai chữ Linh Tiêu trên đầu tên của Đức Tiên Chúa và phía dưới năm chữ “ Tư phương lai cúng Phật ” rồi truyền cho lui chầu.
Buổi Thiên Triều hội nghị chính vào ngày rằm tháng sáu, năm quý sửu niên hiệu Thuận Thiên lục niên ( 1433 ) triều vua Lê Thái Tổ, giờ tí đêm hôm đó Phạm Thái bà nằm chiêm bao thấy có Đức Tây Cung Vương Mẫu, cho một quả đào mùi thơm ngào ngạt, kế đó Phạm Thái bà có Thai.
Đến ngày giáng thế, Đức Tiên Chúa trước vào lậy Đức Hoàng Phụ và Mẫu Hậu rồi trở ra chào văn võ bá quan cùng các vị quần Tiên và dặn dò đâu vào đó song rồi mới bước lên loan xa đã chờ sẵn trước Thiên Môn tức thì:

Xanh ca đàn hát đôi bên

Dập dìu phụng liễn xuống miền nhân gian,

Cờ bay nhạc thổi trống vang

Theo hầu Tiên Chúa cả đoàn Tiên Nga.

Đêm đó Phạm Thái ông nằm ngủ mơ màng thấy các vị Tiên Nga vào nhà mình mùi thơm ngào ngạt, Phạm Thái ông vội vàng khăn áo chỉnh tề ra nghênh tiếp khi bước xuống thềm, vì lòng kinh sợ khúm núm thụt lùi, chật chân sắp ngã, lúc đó Phạm Thái ông giật mình tỉnh dậy thì Phạm Thái bà đã sanh một người con gái.

Nhãn quan lóng lánh tinh thần

Mày ngần vành nguyệt giá ngần vóc sương

Má đào môi hạnh phi thường,

Giá so Tố Nữ Tiên Nương khôn bì

Lúc đó chính vào giờ Dần ngày mùng sáu tháng ba năm giáp dần niên hiệu Thiệu Bình nguyên niên, triều vua Lê Thái Tôn hoàng đế ( 1434 ). Trong nhà thơm nức mùi hoa huệ ai ai cũng lấy làm mừng, làm lạ.
Hoa huệ đó là các vị quần Tiên đem dâng lúc Tiên Chúa khi tạm biệt, Phạm Thái ông tháy con mình hình dung tuấn tú, cốt cách phi phàm, lại nhận thấy chiêm bao các vị Tiên Nga vào nhà nên đặt tên cho con là Tiên Nga.
Gặp cảnh lão bạn sanh châu Phạm Thái ông cùng Phạm thái bà chăm nom săn sóc cho một cách khác thường nói không hết được thật là:

Yêu như ngọc dấu như ngà,

Nưng châu rún biển hứng hoa lưng trời

Mà thê trướng gấm thảnh thơi,

Thâm khuê dưỡng dục khác vời tiên cung.

Phạm Thái ông cùng Phạm Thái bà từ khi sinh ra Tiên Chúa thường bảo nhau rằng: “ Từ khi kết nghĩa với nhau, đã hơn hai mươi năm mà chưa hề sinh nở lần nào, thế là biết hào tử tức của ta hiếm lắm, bây giờ ta đã già rồi mới có, chắc vì thường ngày chúng ta hay làm những điều phước thiện cho nên Hoàng Thiên không nỡ phụ lòng thiệt là cảm ơn trời phật không biết nhường nào.”
Phạm Thái ông cùng Phạm Thái bà nghĩ vậy nên lại lo làm những điều phước thiện hơn trước, ngày tháng thoi đưa, thì giờ thấm thoát, Tiên Chúa đã lên năm tuổi tức là năm Mậu Ngọ niên hiệu Lê Thiệu Bình ngũ niên ( 1438 ).
Đến năm Quý Hợi niên hiệu Thái Hoà nguyên niên ( 1443 ) triều vua Lê Nhân Tôn. Đức Tiên chúa lên mười tuổi, khi đó đã có trí thức thông minh, con gái trần gian vào tuổi đó đương độ thơ ngây, có biết gì là sự khôn dại là sự hiếu thảo, nhưng Đức Tiên Chúa đã xuất tính khác thường rất là hiếu thuận, cung phụng hai thân mùa hạ quạt mát, mùa đông chăn mền.
Những khi Phạm Thái ông hay Phạm Thái bà có đau thì Đức Tiên Chúa ngồi hầu luôn bên trướng, nửa bước không rời, lo chăm thang thuốc lo việc cháo cơm đến khi nào cha mẹ thiệt lành Đức Tiên Chúa mới an lòng.
Có một đêm vào mùa đông tuyết sương lạnh lẽo, Phạm Thái ông lâm bệnh đã ba bốn ngày thuốc thang không chuyển, Đức Tiên Chúa lấy làm lo lắm, Ngài biếng ăn đêm không ngủ, vóc ngọc mình mai, mà bề ngoài giả dạng làm vui, để cho Phạm Thái bà yên dạ, nhưng thấy bệnh Phạm Thái ông không giảm, Đức Tiên Chúa trong lòng hoảng hốt, lúc đó lẻn dậy một mình thắp hương ra giữa thinh không, khấn với Phật trời phù hộ cho cha bệnh tình thuyên giảm.
Phạm Thái bà chở dạy sực tỉnh không thấy con, liền gọi cũng không thưa, bèn thắp đèn đi tìm, Phạm Thái ông thấy vậy cũng thức dậy.
Bất giác Phạm Thái bà ra điện giữa sân, thấy Đức Tiên Chúa đương quỳ khẩn nguyện, tuyết xuống phủ cả người, Phạm Tháí ông và Pham Thái bà thấy con như thế cảm động quá, chờ cho con khấn xong, mới gọi vào thay áo đi nghỉ. Phạm Thái ông thấy con mình còn nhỏ, mà đã chí hiếu như vậy trong lòng khoan khoái vui tươi, từ đó về sau bệnh tình thuyên giảm, thiệt là:

“ Năm nên mười tuổi khôn thay
Một bề hiếu thuận nết na ai tày
Thung thuyên sớm dép túi dày
Quạt nồng đắp lạnh đêm ngày vào ra
Tôn thân thượng mục hạ hoà
Lời ăn tiếng nói nhu hoà khoan thai
Đủ đều ngôn hạnh công dung
So xem cốt cách khác người trần gian. “

Đến tuần tam ngũ phương phi, bạn tần khách tấn dập dìu vãng lai. Phạm Thái công mới hỏi con thời : ” Chiêu thân sớm định đế già tâm khoan, thấy con ngồi dướigối thừa hoan thân con nên phải lo việc nhà.”
Đức Tiên Chúa nghe song thân dạy thế cũng cảm động, nhưng Tiên Chúa nhất định thủ tâm trinh bạch, không chút bụi trần, liền tự nghĩ thưa rằng:

“ Nay con đội đức sinh thành
Ơn tày biển rộng nghĩa đà biển rộng non cao
Hổ thân chút phận thư đào
Hình tâm tử tức triệt vào cung phu
Cuộc đời như thẻ phù vân
Thần Tiên bận lấy duyên trần làm chi
Nhớ khi nuôi dưỡng phù trì
Nghĩ sao báo đáp ơn nghì cho phu
Con xin dốc chí đường tu
Chiều hôm ban sớm duy du vui cùng
Mặc ai mối điệp tin ong
Mặc ai lá thắm chỉ hồng bạn duyên
Khi xưa phẩm cách người tiên
Lẽ nào lỡ để hồng liên bùn lầy. ”

Phạm Thái ông và Phạm Thái bà nghe con nói đã cạn lời, ngỡ rằng con mình tiền thân Phật Quan Thế Âm giáng sinh chăng, nên cũng chiều lòng con, không nói đến sự nhân duyên nữa.
Đến năm nhâm ngọ niên hiệu Lê Thánh Tôn Quang Thuận tam niên, Đức Tiên Chúa hai chín tuổi thì Đức Phạm Thái công tạ thế.
Cử tang mới được hai năm, thì Phạm Thái bà cũng theo Phạm Thái ông về nơi cực lạc.
Tức là năm giáp thân niên hiệu vua Lê Thánh Tôn Quang Thuận ngũ niên ( 1464 ) Đức Tiên Chúa lên ba mươi mốt tuổi, Đức Tiên Chúa đau lòng xót ruột ngất đi tỉnh lại không biết mấy mươi lần.
Than ôi! Trên không anh, dưới không em phải một mình bối rối ngậm thảm nuốt sầu, khó bề toan liệu, bèn mời các bậc trưởng lão trong làng trong xóm lại bàn, các ông trông thấy đức Tiên Chúa nết na hiếu lễ, ai cũng thương tình rồi người giúp việc này kẻ đỡ việc khác sự tống táng Phạm Thái bà rất là trọng hậu.
Đức Tiên Chúa bao quản mọi việc chu toàn, nào hầu hạ họ đương làng nước, nào tiếp đãi kẻ viếng người thăm, nào lo việc thiết đàn làm chay cầu siêu cho song thân, nào lo việc tống táng an toàn nào là lo sắm cỗ bàn thực phẩm để tiếp đãi bà con làng xóm, một mình Đức Tiên Chúa trăm tính ngàn toan, lo đâu đó rất là chu đáo, sau việc tống táng xong rồi, Đức Tiên Chúa lại lo báo đáp những kẻ có công, lạy tạ những người giúp việc không sót một điều đáng trách được, đến tuần tứ cửu làm chay đại đàn bố thí bẩy ngày đêm, Đức Tiên Chúa cầu nguyện cho vong linh hai thân được siêu độ, lòng hiếu thảo thấu đến cửa thiên.
Đức Thượng Đế liền truyền đem bộ trắc giáng ra ngự lãm. Đức Thượng Đế thấy Tiên Chúa còn mười năm nữa mới đến hạn quy tiên.
Còn Phạm Thái ông cùng Phạm Thái bà hằng ngày lo làm điều phúc thiện, tu nhân tích đức, cũng được siêu độ.’
Có một hôm Đức Tiên Chúa thấy chiêm bao, có bà Tam Tinh Công Chúa lại nói rằng: Tôi là con gái Vua Động Đình, vâng mệnh đem vàng bạc châu báu lại giúp.
Quả nhiên trong khoảng mười năm đó, tài chí như xuyên, Đức Tiên Chúa làm ăn phát đạt, chẳng bao lâu mà Đức Tiên Chúa giàu gấp năm gấp mười hơn trước.
Đức Tiên Chúa cảm cái ơn đó, nên bây giờ cứ đệ niên đến ngày hai mươi hai tháng tám là ngày kỵ vua Động Đình thì Quần Tiên hội lại trấn thiết lễ nghi làm lễ chiêm bái để tỏ lòng không quên gốc và ơn.
Đức Tiên Chúa giàu thêm lên bao nhiêu thì Đức Tiên Chúa làm phước thiện bấy nhiêu nào trợ cấp cho đồng dân, lo dựng chùa lập miếu cho làng, lo xây đắp mộ cho các vị Tiên Linh và sửa sang nhà từ đường để phụng sự, còn dư giả bao nhiêu Đức Tiên Chúa bố thí cho tất cả bốn phương dân cùng.

Một hôm xe loan đến nơi rước Đức Tiên Chúa về chầu Thượng Đế. Bữa đó chính là ngày mồng hai giờ dần tháng ba năm quý tị niên hiệu Hồng Đức thứ tư, triều Lê Thánh Tôn ( 1473 ).
Quần Tiên vâng mệnh chỉ truyền, Tam Tinh cùng với Chúa Tiên phản hồi khi Tiên Chúa về đến Linh Tiêu, trước vào bái yết Phụ Hoàng cùng Phụ Mẫu, rồi ra chào văn võ bách quan, sau đi thăm các vị quần Tiên cùng chị em trong cung Quảng thiệt là :

“ Bầu trời cảnh Phật non Tiên
Mới hay vui thú khác miền trần gian
Linh Tiêu ngày tháng thanh nhàn
Tràng sinh đơn nhược rõ ràng là đây .”

Thông Tính khi giáng khi thăng lần thứ nhất
——————————-

Tính từ khi Đức Tiên Chúa giáng sinh, năm giáp dần niên hiệu Lê Thiệu Bình nguyên niên ( 1434 ) cho đến năm quý tỵ niên hiệu Lê Hồng Đức tú niên ( 1473 ) là 40 năm, Đức Tiên Chúa chẵn bốn mươi tuổi, y như lời ngự phê, tứ phương lai cúng Phật, khi cho Đức Tiên Chúa giáng trần.
Bấy giờ Đức Tiên Chúa ở trên Linh Tiêu, tuy rằng vui thú non tiên song lòng còn nhớ tới miền Nghĩa Hưng.
Một ngày kia trên Thiên Cung nhân tiện vạn thọ Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế cờ treo ngũ sắc, đèn sáng muôn màu, trên bàn ngự sơn hào hải vị trước sân rồng vũ nhạc tiêu thiểu.
Liệt Thánh Liệt Tiên, bá quan văn võ, làm lễ chúc thọ trước sân ngọ điện rất là tôn nghiêm, nhạc quân thiên vừa mới tâu lên, khúc nghê thường trước sân chen gót, cờ phất trống rung, khoái kỳ năm quanh quấn càn khôn, mùi trầm hương thơm lừng ngọc bệ.
Đức Tiên Chúa thấy thế, sực nhớ đến khi ở trần gian, Đức Tiên Chúa chưa khi nào làm lễ chúc thọ cho song thân được long trọng như thế, để báo hiếu cho cha mẹ, bèn cảm động quá thổn thức trong lòng, chân tay rời rã. Cho nên đến lần Đức Tiên Chúa dâng thọ tửu nên Đức Ngọc Hoàng thì bỗng sẩy tay rơi chén Ngọc.
Đức Ngọc Hoàng thất ý, liền truyền ghi tên vào sổ trích giáng trần thế, ( Lúc này là năm Lê Anh Tôn, Thiên Hựu nguyên niên, đinh tỵ).
Đức Tiên Chúa bị trích giáng không có ý bằng lòng, cho nên chân bên tả đi nghiêng, lệch không thẳng. Đức Ngọc Hoàng thấy thế bèn truyền Đức Thế Tôn lên phán rằng:
“ Quỳnh Nương bị trích, ta thấy khi ra chân bên tả hơi lệch, tất sau này có cái biến phi thường, trần gian nhiều người oan khổ, vậy ngươi phải nhớ sai ba vị Tiền Quan, Trung Quan và Hậu Quan ra phép trừ đi mới khỏi ”.
Đức Thế Tôn lãnh chỉ lui ra.
Tính từ khi Đức Tiên Chúa về chầu Thượng Đế ở trên Linh Tiêu từ Lê Hồng Đức tứ niên quý tỵ ( 1573 ) cho đến Lê Thiên Hựu đinh tỵ nguyên niên ( 1557 ) là tám bốn năm chẵn, lại bị trích giáng xuống trần.

Thánh Mẫu Giáng Sinh Lần thứ hai

1557 – 1577

Tại thôn Vân Cát, xã An Thái, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định có một người tên là Lê Thái Ông hiệu là Đức Chính, vợ Trần Thị Tự là Phúc Thuấn, ăn ở rất hiền lành phúc đức, ngày làm việc thiện gì thì đêm thắp hương cáo với Ngọc Hoàng, hậu thổ trăm lần như một, đến năm bốn mươi tuổi mới sinh được một người con trai đầu lòng tên là Lê Lục.
Đức Lê Thái Ông nguyên dòng dõi nhà Trần, nhưng sau gặp loạn Hồ Quý Ly và Trương Minh Phụ giết hại Trần Tôn thất nhiều qua, nên phải cải họ Trần ra họ Lê cho khỏi bị hoạ.
Đến năm Thiên Hựu nguyên niên triều vua Lê Anh Tôn ( 1557 ). Lê Thái Bà có thai lần thứ nhì, đã quá ngày sinh mà chưa sinh được, thường ngày các thức mặn không ưa, chỉ thích hoa quả mà thôi, trong nhà thấy thế ngỡ tưởng yêu quái quấy nhiễu, bèn thiết đàn mời thầy phù thuỷ đến có trừ tà trị bệnh nhưng không hiệu quả lại tăng thêm.
Một hôm về tuần tháng ba trời thanh trăng tỏ, có một ngưòi chít khăn nâu áo vải, ra dáng đạo nhân, đứng ngoài cửa xin vào chữa bệnh, người nhà không cho vào, người đạo nhân cười mà nói rằng:
“ Ta đây có phép phục long, hàng hổ, xuất u nhập minh, thấy nhà ngươi ăn ở hiền lành, mới vào cứu giải, sao nhà ngươi lại không cho vào ”.
Lê Thái Ông nghe nói liền mở cửa mời vào, người đạo nhân vào nhà, thì xũ tóc lên đàn, miệng niệm thông thiên thần chú, tay rút cái búa ngọc trong tay áo ra, rồi ném xuống đất, tức thì Lê thái Ông mê thiếp đi, trong giấc mơ ông lạc vào tiên giới, ông thấy hào quang chiếu sáng rực rỡ khắp một vùng trời, bốn phía có che cái tàng tía, hai bên có các quan đứng chầu áo mão xiêm đai, văn võ tướng kể biết bao nhiêu, rất là nghiêm chỉnh, ở dưới trần thế, Thái Ông chưa từng trông thấy.
Nhạc quân thiên bắt đầu tấu trước, khúc nghê thường chen gót múa sau, trên mâm lưu ly dâng quả bàn đào của Đức Vương Mẫu, trong bình đơn dược của Đức Lão quân, hàng hà sa số châu báu không kể xiết.
Một lát, thấy một vị Tiên Nữ mặc áo hồng y, vào làm lễ bưng chén ngọc rượu chúc thọ, xảy tay rơi xuống, lúc đó bên tả có một vị quan giở quyển sổ ngọc, biên vào ước chừng mười chữ.
Đoạn rồi có hai vị sứ giả, và mấy người thị nữ dắt người Tiên nữ mặc áo hồng ra đi ngã cửa nam, có một người cầm tiên bài đi trước, trên kim bài có đề hai chữ “ Sắc Giáng ”, ở đoạn dưới có hai chữ : “ Nam Nam ” ở dưới nữa thì có nhiều chữ nhỏ, vì Lê Thái Ông đứng xa trông không được rõ.
Lê Thái Ông quay lại hỏi hai ông lực sĩ rằng : “Đây là chỗ nào ? đó là ai? chuyện gì thế? ”.
Một người lực sĩ đáp rằng: “đây là Thiên Đình, người ngồi giữa là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, còn ngưòi con gái mặc hồng y là Đệ Nhị Quỳnh Nương bị trích giáng ”.

Lê Thái Ông dần dần tỉnh lại thì Lê Thái Bà đã sinh đặng một người con gái rồi.
Mùi thơm ngào ngạt, ánh hào quang rực rỡ đầy nhà ai cũng lấy làm vui mừng, trong khi cả nhà đang vui mừng cười nói, xóm làng bà con xa gần đều đến viếng thăm mừng rỡ, hiện lúc đó thì ông đạo nhân biến đi lúc nào không biết, ai lấy cho là sự linh cảm, ngợi khen và bái tạ ông đạo nhân.
Bữa đó chính là ngày giáp dần giờ dần tháng ba ( mùng ba tháng bính thìn ) năm đinh tỵ niên hiệu Lê Thiên Hựu nguyên niên triều vua Lê Anh Tôn ( 1557 ).
Lê Thái Ông tưởng đến sự xuất thần cho được trông thấy như thế, ắt là Tiên Nữ giáng sinh, rất là mừng lắm cho nên mới đặt con tên là Lê Thị Thắng hiệu là Giáng Tiên.
Nhà Lê Thái Ông, sở dĩ là được Đức Tiên Chúa bẩm sinh vào đó là nhờ được ngôi một tổ tam đại kết ngôi mộ đó toạ không hướng cấn ở xứ La Hào, thuộc làng An Thái huyện Vụ Bản.
Đức Tiên Chúa lớn lên, da trắng sắc hồng, tóc mây xanh mướt, mắt lonh lanh như thu ba, mày vòng cong hình bán nguyệt, nhan sắc dị thường, trần gian hiếm có.
Lê Thái Ông cùng Lê Thái Bà yêu dấu như châu, như ngọc. Cả ngày chỉ thay nhau bồng ẵm, tháng ngày thoi đưa, chẳng mấy chốc mà Đức Tiên Chúa lên năm tuổi, thường thường Đức Tiên Chúa ra chơi nhà ngoài, hỏi Đức Thái Ông những chữ trên câu đối, Lê Thái Ông bày qua cho một lượt Đức Tiên Chúa nhớ suất cả.
Lê Thái Ông thấy tư chất thông minh, mới bày cho vịnh phú ngâm thơ, và cho đi học. Đến năm mười tuổi ( 1566 ) là ngũ kinh tứ thư Đức Tiên Chúa đã thuộc lòng thông thạo, nói tóm lại Đức Tiên Chúa thông minh vốn sẵn tự trời và lại nhà Đức Thái Ông lại đông khách kẻ ra người vào, nên Đức Tiên Chúa không chuyên cần đặng sự học hành nghiên bút.
Đức Tiên Chúa liền xin phép Lê Thái Ông cùng Lê Thái Bà ra ở riêng một cái nhà ở vườn sau cho tịnh để đọc sách ngâm thơ, hai thân liền bèn chiều ý Đức Tiên Chúa.
Vì Lê Thái Ông và Lê Thái Bà thấy Đức Tiên Chúa thiên tư minh mẫn, nên đã làm săn cái nhà, đó là bản tâm để cho Tiên Chúa tịnh dưỡng và tiện bề đèn sách.
Đức Tiên Chúa thường hay đề thơ vịnh phú, đọc sách gẩy đàn.
Một ngày kia Lê Thái Ông dạo chơi trước sân, bỗng nghe Đức Tiên Chúa gẩy tiếng đàn thanh tao, văng vẳng như nhạc quân thiên ở trên Thiểm cung mà ông đã nghe trong mê thiếp theo hai viên lực sĩ ngày trước đó.
Lê Thái Ông mới nghĩ rằng, con mình là người Thiểm cung, thác sinh về nhà mình là nhà trần gian sợ không nuôi được lấy làm lo cho tương lai của con, nghĩ thế liền bàn với Lê Thái Bà rằng, con mình tôi dợ e khó nuôi, chúng ta lên đem gửi cho ông bạn là Trần Công làm nghĩa nữ. (Ngày nay, trong văn hầu có câu “giáng sinh vào nhà họ lê cải trần”,là dựa vào tích này)
Bàn thế Đức Thái Ông cùng Đức Thái Bà đồng ý. Liền đem Đức Tiên Chúa gửi cho Trần Công, thì Đức Trần Công vui lòng nhận Đức Tiên Chúa làm nghĩa nữ.
Nguyên Trần Công là một ông quan hồi hưu, dòng dõi Trần Triều, kiều cư vào thôn Vân Cát, là quán cửa Thân mẫu ngài. Sau khi Trần Công đã bằng lòng nhận Đức Tiên Chúa làm nghĩ tử rồi Đức Thái Ông làm cho Đức Tiên Chúa một ngôi nhà lớn ở sân gần bên vườn hoa, cho Đức Tiên Chúa ra đó ở cho thanh tịnh cố chăm lo đèn sách.
Lại có một nhà lão quan họ Trần không có con nguyên một đêm kia, nhân khi nhà hạ gió mát trăng thanh mới dạo gót ra vườn hoa chơi, tự nhiên gặp một đứa bé trai ở dưới gốc cây đào, ngài Trần lão quan liền đêm về nuôi đặt tên là Đào Lang.
Ngài xét thấy Trần Đào Lang thông minh đĩnh ngộ, diện mạo khôi ngô, Ngài liền cho đi học vì Trần lão quan cùng Trần lão bà không con nên thương chàng Đào như con đẻ, hết sức dạy vẽ đủ điều. Chẳng bao lâu đã vưn hay chữ tốt, tiếng tăm lừng lẫy khắp trấn Sơn Nam.
Đến năm quý dậu niên hiệu Gia Thái nguyên niên triều Vua Lê Thế Tôn (1573).
Chàng Đào Lang lên hai mươi tuổi, mà Đức Tiên Chúa đúng mười bảy tuổi, thường ngày Trần lão quan hay qua lại chơi nhà Đức Trần Công thấy Tiên Chúa nhan sắc tuyệt vời, thông minh quần chúng, bèn cậy người mai mối tới Lê Thái ông đẻ cầu hôn cho Đào Lang.
Song thân của Đức Tiên Chúa và Đức Trần Công nghĩ rằng nhà họ Trần lão Công cùng dòng dõi trâm anh, mà chàng Đào học hành cũng nức tiếng, đã đồng hương lại cân đối tài sắc, nên song thân của Đức Tiên Chúa cùng phụ, dưỡng mẫu đều ưng thuận.
Nhưng Đức Tiên Chúa một hai không chịu chỉ muốn thanh tu cho khỏi trần luỵ, nhưng Lê Thái Ông cùng Lê Thái Bà đôi ba lần khuyên giải và nhất định hứa hôn cho chàng Đào Lang.
Tiên chúa tự nghĩ đã xuống cõi trần, thôi… cũng đành tạm kết duyên cho tròn quả kiếp, nên bất đắc dĩ cũng phải vâng lời cho đẹp lòng song thân.
Đến năm mười tám tuổi Đức Tiên Chúa bái biệt thân phụ thân mẫu về vu quy với chàng Đào Lang.
Khi Đức Tiên Chúa từ giã song thân, trở về với lang quân, cử chỉ trong gia đình rất là nghi lễ kính thờ cha mẹ, giữ đạo thành hôn, trong họ ngoài làng ai ai cũng đều khâm phục.
Được một năm Đức Tiên Chúa sinh được một người con trai, đặt tên là Trần Nhâm, mặt vuông tai lớn, miệng rộng trán cao, thiệt đúng là trang hào kiệt. Những khi nhàn hạ chàng Đào cùng Đức Tiên Chúa xướng hoạ thi ca, quang cảnh lạc thú trong gia đình ai thấy cũng khen ngợi.
Nhưng… than ôi! tạo hoá trêu ngươi, ông xanh cắc cớ, không ngờ chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.
Đức Tiên Chúa tự nhiên không bịnh mà mất, hưởng linh được hai mươi mốt tuổi, tạ thế ngày mồng ba giờ dần, tháng ba năm Đinh Sửư, niên hiệu Gia thái ngũ niên triều vua Lê Thế Tôn (1577).
Tứ thân phụ mẫu của Đức Tiên Chúa đau lòng xiết nỗi thảm thương, làm lễ an táng rất hậu.
Mộ Đức Tiên Chúa táng tại cây đa bóng làng An Thái. Kế đó Đức Lê Thái Ông buồn sầu theo con rồi lâm bệnh cũng tạ thế mộ cũng táng tại đó, toạ càng hướng tốn, triều vua Gia Long thứ tư đổi xã An Thái làm xã Tiên Hương, đến nay vẫn còn đền thờ Đức Tiên Chúa tại đó.

Thông Tính Khi Giáng Khi Thăng Lần thứ hai.
———————————
Tính từ khi Đức Tiên Chúa giáng trần lần thứ hai là năm Đinh Tỵ niên hiệu Lê Anh Tôn, Thiên Hựu nguyên niên (1557) cho đến năm Gia Thái Đinh Sửu ngũ niên, triều vua Lê Thế Tôn là hai mươi mốt năm ( 1577 ), Đức Tiên Chúa từ khi thác hoá về chốn Đế Đình lấy sự trần duyên chưa mãn trong lòng áy náy khôn nguôi.
Mỗi khi lên chầu điện Ngọc Hoàng, sầu ủ mày xuân, lúc hội tiệc Vương Mẫu, châu chan nét ngọc, các vị Quần Tiên thấy thế cũng thương tâm, mới tâu bày cùng Thượng Đế.
Đức Thượng Đế mới sắc phong : “ Liễu Hạnh Công Chúa” cho phép trắc giáng phi thường, tiêu diêu tự thích khỏi nỗi u sầu.
Lúc đó tuân thừa mệnh lệnh, Đức Tiên Chúa về thẳng quê nhà, thì ở dưới này đã giáp lễ đại tường của Đức Tiên Chúa tức là năm kỷ mão niên hiệu Quang Hưng nhị niên triều vua Lê Thế Tôn ( 1579 ).
Từ ngày Đức Tiên Chúa tạ thế Lê Thái Bà sầu não, nhớ Tiên Chúa trong lòng sa xót nhân một hôm từ mẫu của Đức Tiên Chúa ra thư phòng, kiểm điểm lại thư tịch và đồ dùng thì chỉ thấy chiều gió quấn mành xưa, mặt trời soi cửa sổ, đồ bài trí trước bàn son, nào là sách vở, nào là dàn sáo đều là nhện giăng bụi phủ, nên Thái Bà trông thấy quang cảnh thiệt là đồ vật tư nhân nên động lòng quá nên ngất đi,
Hốt nhiên có một trận gió ở phương đông đưa lại, rồi thấy Đức Tiên Chúa hiện thân ôm lấy Lê Thái Bà mà gọi rằng: “ Thưa từ Mẫu lai tỉnh, con đã hạ trần xuống thăm từ mẫu. ”
Lê Thái Bà bàng hoàng mở mắt xem, rõ là Đức Tiên Chúa mới nói rằng Đức Tiên Chúa đi đâu về đó ? Chẳng phải con đã từ trần sao, hay là Tiên Chúa thần tiên bất tử ?
Tiên Chúa làm thinh ứa hai hàng lệ, lúc đó Lê Thái Ông và hai ông bà Trần Công cùng người anh là Lê Lục thấy thế xúm lại nửa mừng nửa sợ, chàng Đào Lang cũng vừa bồng con lại than khóc thê thảm.
Tiên Chúa gạt nước mắt lậy mà rằng : “ Con thật thất hiếu, luỵ đến song thân, không phải con không biết đạo làm con để vui vầy dưới gối, song vì duyên số khôn lường, số trời khó tránh, xin song thân nhẹ đoạn tình thâm, tạm thâu giọt lệ.”
Lúc đó Tiên Chúa lại thưa với thân huynh, nhờ thân huynh hầu hạ song thân, còn phần muội hết hạn phảỉ về chầu Thượng Đế.
Sau Đức Tiên Chúa lạy phu quân là chàng Đào Lang mà thưa rằng, xin phu quân bớt cơn sầu muộn để cho tiện thiếp phân biệt đôi lời, số trời đã định, cho tiện thiếp có ngần ấy thôi, xin phu quân xét lại mà di dưỡng tinh thần, kẻo hao mòn quý thể.
Kế đến Tiên Chúa lạy ông bà Trần Công mà thưa rằng: “ Xin hai thân yên lòng mà lượng thứ cho con ”.
Ông bà Trần Công nói rằng, từ khi âm đuơng cách biệt, chúng ta hồn vơ phách vẫn, ruột héo gan mòn, bữa thường ngao ngán, giấc những mơ màng, tưởng đến hình dạng con chẳng nguôi tấc dạ.
Đức Tiên Chúa vô cùng xúc động mà thưa rằng: “ Con là Đệ Nhị Tiên Cung, bị trích giáng, ngày nay đã từ giã cói trần, về chầu Thượng Đế, xong nghĩ đến ân thâm cúc dục nghĩa trọng cù lao, nên con xin tạm viếng thăm, gọi chút tạ ơn và cha mẹ có âm đức được liệt tên vào Tiên tịch ngày sau tất được đoàn viên.
Bây giờ chàng Đào bồng con ngồi nghẹn nói không ra lời, Đức Tiên Chúa thấy thế động tâm quá cũng rơi luỵ, bồng lấy con mơn mớn rất là thê thảm, chàng Đào nói rằng : “ Tôi may được phối hiệp lương duyên, cũng mong được bách niên giai lão nào ngờ đâu nửa đường ly biệt, nặng gánh sầu tư, nay lại được kết cái duyên tái sanh nầy thật là hạnh phúc, xin nương nương lưu lại ”.
Đức Tiên Chúa nghe nói thế lại càng xa xót trong lòng, khóc mà thưa rằng : “ tôi cũng muốn ở lại hầu hạ lương nhân cho trọn chữ tùng, nhưng số trời đã định, ở trần thế có chừng ấy thôi ”.
Nói xong sụp xuống lậy chàng Đào hai lậy rồi biến mất. Chàng Đào thương tiếc quá khóc nên, cả nhà ai cũng khóc rất là thê thảm.
Khi đó, một ánh hào quang trong nhà bay ra, mùi thơm ngào ngạt, rồi không thấy gì nữa. Được ít lâu, chàng Đào tới kinh học tập và đem con theo nữa, nhưng phần thương con, phần nhớ vợ không tài gì học tập cho chuyên cần đặng.

Đức Tiên Chúa về hiện thân thăm lại quê hương lần thứ hai
————————————–
Một đêm, chàng Đào Lang ngâm thơ vừa xong, thì hài nhi cũng vừa an giấc, lúc bấy giờ bỗng đâu gió lạnh thoảng qua, ngọn đèn nửa mờ nửa tỏ, lắng tai có tiếng người kêu, chàng đứng dậy nhìn thì Đức Tiên Chúa đã hiện thân dần, chàng Dào nửa mừng nửa sợ, níu áo khóc mà than rằng:
“ Nương nương ơi! Tôi là thơ sanh trần tục tốt duyên dầy phúc, được gặp người Tiên lòng những mừng thầm, con trai đã có, nhà cửa vẻ vang những tưởng trăm năm vàng đá. Ngờ đâu dứt gánh giữa đường, phụng rẽ loan chia để một mình vò võ, ngao ngán thay chiếc gối mơ màng, thật là trăm sầu nghìn thảm dẫu cho gan vàng cũng nát, dạ sắt cũng tan, nay xin nương nương cho tôi nối gót theo cùng, cho thoả lòng sầu thảm mấy năm trời ”.
Đức Tiên Chúa lấy tay che mặt khóc mà thưa rằng: “ Xin lương nhân đừng quá thương tâm như thế mà sai, chớ nghĩ tình duyên má phấn để phí lãng khoa danh vả lại nghiêm từ già yếu con trẻ thơ ngây, biết cậy nhờ ai. ” Chàng Đào Lang nghe Đức Tiên Chúa khuyên giải mấy lời, trong lòng xót xa luỵ ứa thắm khăn liền nói với Đức Tiên Chúa mà rằng:
“ Chẳng phải tôi đây thiểu nghĩ, song mà gánh sầu nặng vai, dẫu có nắng giữ mưa gìn, sống được cũng e khó nỗi. ”
Đức Tiên Chúa an ủi rằng: “ Thiếp vốn Thiên Cung Tiên Nữ, còn lương nhân là Đề Sở Tinh Tào, hai bên gặp gỡ tất có thiên nhiên tiền định, chẳng may nửa chừng bình rơi trâm gãy, để cho đôi ta nuốt thẳm ngậm sầu, vả lại tình duyên chưa mãn, khoảnh khắc trong ba mươi năm, đôi ta được tái hợp, xin lương nhân tạm gác cơn sầu và chăm nuôi con khôn lớn trưởng thành, chớ nghĩ đến thiếp lòng phiền đeo nặng. ” Nói đến đây trăng vừa lạc bóng, trời sắp rạng đông, Đức Tiên Chúa đứng dậy thưa với chàng Đào rằng:
Bây giờ âm dương cách biệt, mỗi khi thiếp nhớ đến quê hương, lòng đau như cắt, thiếp nhờ lương nhân thay thiếp viếng thăm, trước nữa cha mẹ thiếp, được khuây lòng, sau lương nhân trọng bề bán tử, và xin lương nhân thay thiếp hầu hạ song thân cho trọn bề hiếu nghĩa, hết phận làm con.
Còn tuy việc vợ chồng, tuy là bể ái nguồn ân, song mà số phận tại trời, chẳng phải là thiếp ham nơi bồng đảo mà phụ nghĩ tào khang, xin lương nhân đổi sầu làm vui kẻo hao mòn quý thể.
Đức Tiên Chúa nói xong biến mất, chàng Đào ngơ ngẩn nhìn theo mà tuôn hàng lệ không biết làm sao đặng.

Đức Tiên Chúa ở trên Thiên đình, khi bị trích giáng, chân bên tả đi nghiêng nghiêng, là có ý bất bình sẵn rồi, đến khi xuống trần lại bị lương nhân lỡ dở, Đức Tiên Chúa phải nuốt tủi ngậm sầu, đắng cay ngàn nỗi nên Đức Tiên Chúa lại càng bất bình hơn nữa, vì thế Đức Tiên Chúa tái giáng biểu hiện không thường.
Khi thì hoá thành một người con gái đẹp, bán trầu rượu ở Đào Ngang Ba Dội ( giáp Thanh hoá Ninh Bình ). Khi hoá ra một bà lão già, mua bán các món thực phẩm. ở Phố Cát Đại Đồng, nguời trần thế không biết mà hỷ cợt điều gì , thì bị tai hoạ lập tức; Vì Đức Tiên chúa đẹp quá, cho nên những người ngu nhân tục tử, ao ước đắm say, khi kết cuộc không thành, rồi đặt ra những câu hát sau nầy để tỏ lòng khát vọng:
“Ăn trầu nhớ miệng cau khô
Lên Đèo Ba Dội, nhớ cô bán hàng
Ăn trầu nhớ miệng cau khô
Qua đồi Phố Cát nhớ người năm xưa ”
Còn khi Đức Tiên Chúa hiện thân một cô gái đẹp ở Phố Cát Đại Đồng họ cũng đặt ra những câu hát như thế nầy, để tỏ lòng mơ tưởng;
“ Ai lên Phố Cát đại đồng
Hỏi thăm cô tú có chồng hay chưa
Có chồng năm ngoái năm xưa
Năm nay chồng vắng như chưa có chồng ”
Những người đặt ra những câu hát đó và người nào hát lại mấy câu hát đó đều bị tai hoạ cả, ai biết đều phải dốc lòng kính phục, tỏ dạ chân thành, cúng vái cầu khấn, thờ lại được sở cầu như nguyện.
Khi tứ thân phụ mẫu, mình già cưỡi hạc chơi mây, Đào lang làm lễ an táng, xong xuôi, ngàì lo buồn mà lâm bệnh, thì cho thỉnh huynh trưởng của Đức Tiên Chúa là ông Lê Lục mà thưa rằng : “ Nay em bịnh tình khó bề thuyên giảm, trên không cha mẹ, dưới chẳng một ai, may đội đức cao dầy, chỉ tổn anh lại cho em xin bái biệt, còn chút con thơ xin cậy cùng anh bảo dưỡng ”. Đức Dào Lang nói xong, thì hồn đã chơi vơi miền cực lạc.
Còn người con của ngài là ông Trần Nhâm nhờ người anh của Đức Tiên Chúa là ông Lê Lục nuôi dưỡng thành người, tuy thế nhưng lòng của Đức Tiên Chúa vẫn cứ đeo thảm ngậm sầu, hiều tình xót xa nghĩ đến bao nhiêu lại càng căm giận với cái trần kiếp bấy nhiêu.
Đức Tiên chúa trong lòng bực bôi cho nên hiển hiện phi thường, nào là bọn ngu nhân, nào là bọn kiêu lẫn gian dâm, Đức Tiên Chúa ra oai sát phạt, thiên hạ chết nhiều nhân gian khổ sở, tiếng than vang oán trách đến trời xanh.
Nên chi bây giờ Đức Thế Tôn mới sai ba vị là : Tiền Quan, Trung Quan và Hậu Quan xuống ra phép giải trừ, cấm không cho Đức Tiên chúa sát phạt như thế nữa.
Ba vị quan này biết Đức Tiên chúa có phép lục trí thần thông của Đức Giao Trì Vương Mẫu trao cho khó lòng mà trừ được, nên khi xuống trần bèn bàn với nhau lập ra một kế để đánh lừa Đức Tiên Chúa.
Sau khi ba vị đó đã nhận biết hiện nay Đức tiên Chúa đã hoá ra người con gái bán trầu nước ở Đèo Ngang, vị Hậu Quan cũng hoá ra một người sứ giả, đầu đội mũ ni chân đi giày vải, mình mặc áo nâu, tay cầm gậy chúc đi vào quán của Đức Tiên Chúa và nói rằng:
“ Bần tăng bấy lâu nay tu luyện ở trong núi kia, nghe nói Tiên cô lục trí thần thông, rất lấy làm hâm mộ, nay nhân khi nhàn hạ, muốn đến xin thỉnh giáo, không biết Tiên cô có vui lòng dạy bảo cho không ?”
Đức Tiên Chúa đương khi bất ý không ngờ, tưởng là sự thật đáp rằng:
“ Phù phép tôi đây cũng có được ít nhiều, nếu hoà thượng không hiềm chê tôi là hèn mọn, tôi cũng xin sẵn lòng hiến thử cho một vài phép cho hoà thượng xem. ”
Nói xong Tiên Chúa vừa hoá phép vừa hoá rằng:
“Đây là phép : Hô phong hấp vũ;
“Đây là phép : Động địa thăng thiên;
“Đây là phép : Xuất u nhập minh;
“Đây là phép : Phục long hằng hổ;
“Đây là ấn : Ngũ hành…………….

Trong khi Đức Tiên Chúa làm phép và ấn quyết cho ông sư xem, thì hai vị Tiền Quan và Trung Quan đứng đằng sau thu phép của Đức Tiên Chúa vào Hồ Lê cả.
Đến khi Tiên Chúa trổ tài xong, định thu phép vào, thì hồi ôi: Phù phép của Đức Tiên Chúa đã biến đi đâu mất cả, Đức Tiên Chúa biết là đã mắc lừa rồi, nhưng ăn năn cũng không kịp nữa;
Ba vị Quan đó liền nói với Đức Tiên Chúa rằng:
“ Phép của Đức Tiên Chúa như thế, cũng đã nhiệm màu linh ứng, nhưng hãy còn thiếu , Tiên Cô nên luyện tập thêm đã ” Đức Tiên Chúa hỏi: “ thiếu gì ? ” Ba vị quan đáp: còn thiếu tấm lòng từ bi, Đức Tiên Chúa còn đang ngẫm nghĩ, thì ba vị lại hỏi tiếp:
“ Bấy lâu nay Tiên Cô sát phạt sanh linh nhiều quá, tổn hại đến đức hiếu sinh của đấng Thượng Đế. Vì thế ba chúng tôi vâng mệnh lệnh của Đức Thế Tôn, xuống đây nói lại với Tiên Cô biết, bây giờ chúng tôi hãy tạm thu lại bửu bối của Tiên Cô đã. Nay Tiên Cô nên tìm tới cửa từ bi tu luyện trong ít lâu, sau khi Phật quả viên thành chúng tôi xin giao lại. ” Nói xong ba vị đằng mây lên thượng giới.
Bấy giờ Đức Tiên Chúa mới tỉnh ngộ, lấy làm hối hận lắm, hối hận vì quá tin người mà đến nỗi tạm thu bửu bối, hối hận vì quá sát phạt sanh linh, để đến nỗi Ngọc Hoàng phải giận.
Lúc bấy giờ Tiên Chúa bỏ chỗ đó và đi vân du thiên hạ, đến địa hạt tỉnh Lạng Sơn, thấy non cao đường vắng, cảnh trí thiên nhiên lại có một ngôi chùa đổ nát, khói lạnh hương tàn.
Đức Tiên Chúa bèn vào chùa lễ Phật, xong ra ngoạn cảnh xem hoa, chùa đó gọi là chùa Thiên Minh Tự, xây dựng trong một rừng thông, vượn hót chim kêu như rung chuông, như gõ mõ trước chùa lại có một cái suối bốn mùa nước chảy trong veo, lửng lơ mấy con cá như có ý nghe kinh, tuy cảnh trí đơn sơ, nhưng có vẻ thiên nhiên.
Lúc đó thoạt nhiên Đức Tiên Chúa thấy, Đức Phật Quan Thế Âm hiện thân thuyết pháp, Đức Tiên Chúa bèn quỳ xuống bạch Phật xin thọ giới.

Đức Tiên Chúa thọ Giới Phật Tự
Đức Tiên Chúa vào tu luyện chùa đó tức là năm đinh dậu, niên hiệu Quang Hưng thứ hai mươi. Triều vua Lê Thái Tôn ( 1597 ); khi nhàn hạ, Đức Tiên Chúa thường đặt một cái ghế, dưới gốc cây thông trước chùa gảy đàn và hát rằng:

Mây kia chim nổi núi cheo leo
Rừng kia rậm rạp chim leo trèo
Bề ( bờ khe ) kia ngao ngát hoa trăm triều
Hang kia ào ào tiếng thông reo
Gẩy khúc đàn kia sự tiêu diêu
Ô hay! Thú vui rừng núi kìa
Kém gì Linh Tiêu !

Đức Tiên Chúa gẩy đàn, và hát song hốt nhiên có tiếng người đọc rằng:
“ Tam mộc sum đình, toạ trước hảo hề nữ tử. ”
( Nghĩa là: Ba cây bỗ hợp trước sân, ngồi mà phô đẹp, đó là Tiểu Thư: nghĩa là thế, nhưng có ý hợp ba chữ mộc thành chữ sum hai chữ nữ tử thành chữ hảo. )
Đức Tiên Chúa nghe mà chưa biết người nào đọc, ngách ra xem thấy có một người đội mũ cao áo rộng, cưỡi ngựa đi trước, vài ba mươi người theo sau, và có cây cờ mao tiết, đề đi tiền đạo, Đức Tiên Chúa biết ngay là người đó vâng mệnh Triều Đình đi sứ:
Đức Tiên Chúa liền đọc lại một câu đối rằng:
“ Trùng sơn xuất lộ tẩu lai sứ giả lại nhơn.”
( Nghĩa là: Hai quả núi ra đến đường chạy lại kẻ đi sứ đó là ngươi. Nghĩa tuy là thế nhưng có ý kết hai chữ Sơn thành chữ Xuất, hai chữ Lại Nhơn thành ra chữ Sứ. )
Người đó nghe đối lại hay quá, lấy làm khâm phục liền xuống ngựa vái chào thưa rằng:
Cô tên họ là gì? người ở đâu? Mà lại tài năng đối ứng như vậy ?
Đức Tiên Chúa chỉ vào trong núi nói rằng:
“ Chính chúng tôi ở trong kia ” còn tên họ Đức Tiên Chúa không nói.
Người đó lại liền đọc một câu rằng:
“ Sơn nhân bằng nhất kỷ, mạc phi Tiên nữ giáng phàm ”
( Nghĩa là: Người ở núi ngồi trên một cái ghế, há chẳng phải là bậc Tiên Nữ tới bậc phàm trần.
Nghĩa là thế, nhưng cũng có ý kết hai chữ Sơn Nhơn là chữ Tiên chữ Nhất và chữ Kỷ thành chữ Phàm.)
Đức Tiên Chúa liền ưng khẩu đối lại rằng:
“ Vãn tử đái trường cân, tất thị học sinh thị trướng ”
( Nghĩa là:Con nhà văn đội cái khăn dài hẳn đó là kẻ học sinh hầu bên trướng.
Nghĩa tuy là thế, mà cũng có ý kết hai chữ Vãn Tử thành chũ Học chữ Trướng và chữ Cân thành chữ Trướng.
Đức tiên Chúa đã đối lại cân chỉnh, lại có ý nghiêm…” Đức Tiên Chúa coi người đó như là học sinh của mình ”, Người đó nghe song ngoảnh lại , Tiên Chúa đã đâu mất, lấy làm ngạc nhiên, liền đi tìm khắp trong chùa, và chung quanh núi đều không thấy đâu cả, chỉ thấy có một cây gỗ nằm ngang, ở giữa đường nhìn đi nhìn lại có bốn chữ:
“ Mão Khẩu Công Chúa ”
Người đó tán ra rằng:
“ Cây gỗ là chữ Mộc, gia thêm chữ Mão một bên, thành chữ Liễu, lại còn chữ Mộc gia thêm chữ Khẩu ở dưới là thành ra chữ Hạnh thế là sắp lại thành ra Liễu Hạnh Công Chúa ”
Bên cây gỗ nằm ngang đó , cách xa mấy chữ đó lại có cắm một cái thẻ, đề bốn chữ:
“ Băng Mã Dĩ Tẩu ”
Người đó lại đoán ra rằng:
“ chữ Băng với chữ Mã hợp lại tức là chữ Phùng, chữ Dĩ với chữ Tẩu kết lại thành chữ khởi bốn chữ này là ý Công Chúa nói đương chờ ta là họ Phùng khởi công sửa sang lại ngôi chùa Thiên Minh này lại.”
Nguyên thời đó chính tên là Phùng Khởi, đậu hoàng giáp, bây giờ phụng mệnh đi sứ bên Tàu, nhơn đi qua đó, vừa gặp Đức Tiên Chúa.
Những người theo hầu đó, nghe ông Phùng Khắc Khoan nói như thế ai cũng lấy làm kinh dị, ngài bèn đòi các phụ lão trong làng đó lại, giao cho một số tiền để sửâ sang ngôi chùa đó, cho được hoàn toàn rồi ngài Phùng Khắc Khoan ra đi có đề một bài thơ rằng:

Rừng xanh tịch mịch vắng teo nhà
Tiếng hát đâu từ cạnh núi ra
Khúc hát cuốn mây người chẳng thấy
Mấy tầng xanh biếc núi nguy nga.

Đức Tiên Chúa ra tu luyện ở chùa Thỉên Minh. Tự đó có một thời kì đã lâu; về sau Đức Tiên Chúa thong thả dạo chơi, khắp bốn phương trời, nào là nơi lâm tuyển, sơn thuỷ, nào là chốn thành thị chùa triền, cùng các nơi danh tiếng, lại tưởng nơi phồn hoa thắng cảnh, Đức Tiên Cháu xe mây cưỡi gió ra chốn đông kinh, dạo khắp các miền thắng cảnh.
Lúc đó Phùng Khắc Khoan đi sứ Tàu về, sung chức phán toà, kiểm điểm sứ bộ, thấy công việc rồi mắc, rất là phiền nhũng, sực nhớ đến lúc qua hồ Động Đình lên núi Hoàng Hạc, uống rượu ở núi nhạc Dương làm thơ ở sông Xích Bích.
Nhớ những cảnh trí như vậy, mà sinh mối cảm tình, ngài bèn xin cáo nghỉ, để đi tìm cảnh thế vui chơi, bầu rượu túi thơ, cùng bạn văn chương là Ngô Cử Nhơn và Lý Tú Tài, nhằm xứ Tây Hồ thẳng bước.
Để ngoạn cảnh tiêu diêu, đang lúc mùa hè, sắc trời quang xinh, ba ông qua khỏi một rừng, lại trải qua bao nhiêu cầu ngang quán dọc, vừa đến một nơi thoang thoảng, gió đưa mùi hương sen ngào ngạt, liếc xem thấy cảnh Hồ Tây, ông Lý Tú Tài lấy làm vui vẻ nói với ngài Phùng Thị Giảng mà rằng:
Quan huynh học rộng tài cao, nay gặp buổi trời tốt cảnh xinh, sao không vịnh thơ, xin quan huynh xướng trước cho chúng em theo sau, khi đó ngài Phùng Thị Giáng vịnh cảnh Tây hồ thơ rằng:

“ Bôn ba danh lợi giữa đường đời
Bước tới hồ Tây đã thảnh thơi
Phương trượng bồng lai đến huyền ảo
Mới hay Tiên tục tự lòng người ”

Ngô tú Tài vịnh thơ rằng:

Tấc lòng chẳng vướng chút trần ô
giải đất chung trong một bức đồ
Gió mát trăng thanh đều cảnh thích
Bụng ta đâu cũng có Tây Hồ

Lý Cử Nhân vịnh thơ rằng:

Hoa đón khách lâu liễu đón thuyền
Tây Hồ say miết ngủ liên miên
Câu thơ lúc tỉnh người người khiếp,
Mình nghĩ là mình cũng trích tiên.

Nghe hai ông vịnh xong, ông Phùng Thị Giảng khen rằng:
Giọng thơ anh Ngô thì thanh kỳ, giọng thơ anh Lý thì phóng dật, khí tượng hai anh tuy không giống nhau, nhưng tóm lại cũng đều là …Tỉên…Tiên…thi cả.
Ông Ngô và ông Lý nói rằng:
“ Giọng thơ của quan huynh vẫn có phong điệu đại gia, còn chúng em là bậc hậu sinh, có dám đâu mà giám khen ngợi.”
Rồi ba ông rủ nhau theo bờ Hồ Tây thẳng đến dặm hoà thăm thẳm, bóng nước long lanh, trông thấy trước xa có một toà nhà rực rỡ, trước nhà có đề bốn chữ:

Tây Hồ Phong Nguyệt

Hai bên của có đề hai câu đối rằng:

Hồ trung nhàn nhật nguyệt
Thành ngoại tiểu càn khôn

Trong phía trong bức sáo, có một nàng mỹ nhơn mặc hồng y ngồi chính giữa, trông vào rất là trang nghiêm.
Ba ông đó có ý xin vào mà vị mỹ nhân không cho, ba ông lại chèo thuyền đi nơi khác.
Cách ba bốn tháng sau, ông Phùng Thị Giảng cùng hai ông Ngô, Lý uống rượu ngâm thơ như trước, khi đó ông Phùng Thị Giảng kể lại chuyện cho bạn nghe, lúc đi sứ bên Tầu, qua núi Lạng Sơn có gặp Đức Tiên Chúa, thế nào ba người sực tỉnh lại bảo nhau rằng:
“ Có lẽ kỳ trước ở Tây Hồ chúng ta gặp được Đức Tiên Chúa mà không biết chăng. ”
Nói đoạn, ba người lại rủ nhau đi chơi Tây Hồ, chèo thuyền tới chô cũ, chỉ thấy mấy cụm đào mà thôi, không thấy lâu đài nhà cửa như trước nữa, ba ông nhìn quanh quẩn thấy ở gốc cây đào có bài thơ chữ truyện rằng:

Áo mây xe gió khác trên trời
Đâu xuất yên hà sớm tối chơi
Tên hiệu người trần ai muốn biết
Quỳnh Hoa Công Chúa vốn tiên trời.

Ba ông xem xong, thấy thi tứ tao nhã, ý tứ sâu xa, sau nghĩ mãi tán ra rằng;
chữ Nhất với chữ Đại kết thành chữ Thiên, chữ nhân với chữ Sơn kết thành chữ Tiên, chữ Ngọc với chữ quýnh kết thành chữ Quỳnh, còn chữ hoa đứng lẻ một mình là chữ hoa.
Tức hiệu của Đức Tiên Chúa, ông Phùng Thị Giảng đoán như thế, bây giờ ba ngài mới biết đích là ngày trước cũng là duyên kỳ ngộ vậy.

Thánh Mẫu Giáng Sinh Lần Thứ Ba
1609 – 1610

Nguyên trước ĐứcTiên Chúa giáng sinh lần thứ hai hưởng thọ đặng hai mốt năm ( 21 ) tuổi vừa tạ thế.
Khi lên chầu Đế Đình, thường thường Tiên Chúa cứ sầu phiền sự trần duyên chưa mãn.
Đức Thượng Đế sắc phong “ Liễu Hạnh Công Chúa ”, cho phép trắc giáng phi thường, tiêu diêu tự thích, Đức Tiên Chúa vâng lệnh về thẳng quê hương, hiện thân thăm tứ thân phụ mẫu và lang quân, tử tức và huyanh đệ.
Chính là năm kỷ mão niên hiệu Quang Hưng nhị niên triều vua Lê Thế Tôn ( 1579 ) tuy thế nhưng Đức Tiên chúa hiển thân về thăm quê hương hai lần rồi. Đức Tiên Chúa vân du thiên hạ khi ẩn khi hiện phi thường, lúc ngoạn cảnh danh lam, khi tiêu diêu bồng đảo trong vòng ba mươi năm, về sau chàng Đào tái sinh tức là Mai Sinh, bấy giờ chàng Mai Sinh được hai mươi tuổi.
Đức Tiên Chúa giáng hiện, tái hợp với chàng Mai Sinh là lần giáng thế lần thứ ba, kể từ đó tức là năm kỷ dậu niên hiệu Hoàng Định thập niên triều vua Lê Kình Tôn ( 1609 ).
———
Thế là Đức Tiên Chúa từ giã cảnh Tây Hồ qua núi Sóc Sơn Thanh Hoá, có một dãy núi toàn là cây đào xanh tốt, dưới lại có một hòn đá vuông bằng phẳng, Đức Tiên Chúa mới lấy cành lá quét sạch, ngồi chơi trông xem bốn bề cảnh trí thiên nhiên, không khác đào nguyên Tiên cảnh, nhưng hiếm có một nỗi vắng khách tri âm biết cùng ai ngâm thơ vịnh phú.
Đức Tiên Chúa lại gần bên khe nước ném hoa rụng mà chơi, bỗng thấy gã thư sinh, hình dung tuấn tú, cốt cách phi phàm thẳng đường Tây Mụ đi tới. Đức Tiên Chúa biết đích là Đức Lang Quân tái sinh mới đứng đàng xa bảo rằng: “ Tôi nhân đi chơi hội, vì qua vui chân bước tới, bây giờ quên cả lối về, may gặp quý khách qua đường, xin mong ơn chỉ giúp? ).
Nguyên gã thư sinh đó chính là Đào Lang thưở trước, nhân vì sầu uất, cho nên tái sinh lần nữa, lần này tái sinh vào nhà họ Mai làng Tây Mụ huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá. Chàng Mai tuổi mới hai mươi, chí khí khác thường, thông minh, song thân đều đã qua đời hết, anh em không có, nhà cửa lại nghèo, vợ con chưa có, ngày đó đi học về.
Không ngờ gặp Đức Tiên Chúa, tính ngài nghiêm chỉnh, ghét sự nguyệt hoa vả lại ngài không nhớ kiếp tiền sinh của ngài nên mới cự tuyệt.
Ngày hôm sau, chàng Mai Sinh đi học lại đi ngang qua đó, thấy có một mảnh giấy dán ở cây đào trông có bài thơ vịnh cây đào rằng:

Vóc đẹp trời sinh há sửa bày
Lòng thơm gìn giữ mấy năm nay
Dễ dàng mắt tục bao giờ thấy
Lần lượt mùi hoa đợi gió bay
Bóng nguyệt quen nhau sai đó mãi
Tin xuân dưa mối đợi ai rày
Sớm hay dòng nước tình ai lãng
Nỡ để hồng rơi dục khách say.

Chàng Mai Sinh xem song bài thơ, khen rằng “ thật là tài nhả ngọc phun châu, không ngờ giữa trần thế đây lại có tiểu thư nào tài tình đến thế, thật là đáng phục ”. Khi đó chàng Mai Sinh liền hoạ lại một bài thơ rằng:

Liếc mắt đền Giao trước sẵn bầy
Giòng Tiên lưu lạc tới gì đây
Chán trông ngọn cỏ thầm thầm nín
Tiêng với mùi lang thoang thoảng bay
Đàn sáo xôn xao cười những thế
Bướm ong lơi lả dám đâu rày
Dưới rừng gặp gỡ càng vơ vẩn
Một chén non thần đã muốn say.
Chàng Mai Sinh đề thơ song, muốn đi tìm tiểu thư, nhưng sợ đường đột quá, vả chăng bữa trước thì làm sao, nay đi chỗ này, chỗ khác mà tìm cũng bất nhã, nên phải nén lòng mà về.
Sau nhiều lần thi ca đối đáp qua lại, Đức Tiên Chúa với chàng Mai Sinh, hai ngài chỉ non thề ước, lậy tạ cao xanh.
Bây giờ hai ngài mới kết duyên cầm sắt, một nhà sum hiệp, khi ăn nói, lúc lễ nghi, xem trông âu yếm, đều cùng kính yêu.
Đó là Đức Tiên Chúa giáng sinh lần thứ ba tái hiệp với chàng Mai Sinh, là năm Kỷ Dậu tháng hai trọng xuân niên hiệu Hoàng định thập niên triều vua Lê Kính Tôn ( 1609 ).
Lúc bấy giờ chàng Mai Sinh đã phối hiệp được vợ, đã phong tư diêm thế, sắc tướng nghiêm trang, rồi từ đó về sau, cầm sắc hoà minh, khuê phòng lạc thú, cho nên có ý sao lãng sự học hành, không được chuyên cần như trước nữa. Lúc Tiên Chúa thấy thế không bằng lòng, một hộm Đức Tiên Chúa dệt vải đã khuya mà vẫn cứ dệt, để chờ Đức Mai Sinh đi chơi về, Đức Tiên Chúa mới lấy rượu ra ngồi đối ẩm, Đức Mai Sinh vô tình không biết, Đức Tiên Chúa không bằng lòng, nên mới bảo Đức Tiên Chúa rằng:
“Đêm nay trăng thu vằng vặc, cảnh sắc xinh tươi, trên trời nhị thập bát tú phân minh, Đức Tiên Chúa có nhớ ở chốn Thiên Tinh chăng nhỉ? ”
Đức Tiên Chúa nghe Đức Mai Sinh nói đến nhị thập bát tú, nên nhơn đó, lấy hai mươi tám vị sao làm một bài thơ khuyên phu quân.

Nữ nhan sắc có ở khuê phòng
Giữ vững lòng siêng để chủ chương
Bên xóm đèn giong, tia gọi đến
Góc lầu trăng xế, bóng soi ngang
Thể văn ông Liễu nên xem kỹ
Lối truyện chàng Cơ phải xét tường
Mở miệng thơ hay tranh giải nhất
Vũ Môn vùng vẫy chí thêm hăng.

Đức Mai Sinh nghe thơ, biết là Đức Tiên Chúa làm thơ đó có ý khuyên mình chăm học. Đức tiên chúa lại nói:
Kẻ nho nhã học cho cách vật trí tri, thông kim, bát cổ, đề ra thi thố với đời, lập lên sự nghiệp, còn như học vấn văn chương phù phiếm, vịnh phú ngâm thơ, chẳng sai lắm ru, xin phu quân tỉnh ngộ.
Đức Mai Sinh hai ba lần tạ lỗi nói rằng: “ Tôi sức tài hèn mọn, đáng chí phóng tâm, may nhờ hiền thơ nhắc nhủ ”.
Đức Tiên Chúa nghe nói, biết là Đức Lang Quân hối hận, lấy làm vui mừng, nên lại trò chuyện xướng hoạ cùng nhau đến khi trăng lặn mới nghỉ.
Được hơn một năm, Đức tiên Chúa sinh một con trai, đặt tên Mai Cổn, thông minh đỉnh ngộ, biện mạo khôi ngô, thế gian ít có, sang năm sau Đức Mai Sinh đi thi, đậu cả hương và hội, xung vào hàn lâm viện, rồi bổ ra làm quan. Tính ngài giản dị cho nên công việc cũng rảnh rang, thườn thường cùng Đức Tiên Chúa uống rượu ngâm thơ, bên xướng bên hoạ, như gấm dệt, như hoa thêu.
Cảnh lạc thú trong gia đình Đức Tiên Chúa diễn ra như thế, được gần một năm thì hết.
Một hôm về cuối mùa đông, khí trời rét mướt Đức Mai Sinh cùng Đức Tiên Chúa ngồi đối diện bên cạnh lò lửa chuyện trò rất tri kỷ, ân nghĩa mặn nồng, thiệt là tâm đầu ý hiệp.
Hốt nhiên, nước mắt Tiên Chúa chảy xuống như mưa, bức tức nghẹn lời, nói không ra tiếng. Đức Mai Sinh lấy làm ngạc nhiên, hỏi cớ làm sao, Đức tiên Chúa thưa rằng:
“ Thiếp đây là Thiên Đình Đế nữ, chỉ vì nỡ tay đánh rơi chén ngọc, nên phải tạm trích xuống trần, thiếp cũng đã cùng phu quân tác hiệp một kiếp trước rồi, nhưng trần duyên chưa mãn, kiếp này lại tái hiệp một lần nữa, nay trích kỳ đã hết; thiếp phải phụng mạng về trời.
Nhưng thảm thay…thiếp nghĩ đến phu quân gối chiếc chăn đơn, khuy sớm không ai hầu hạ, nghĩ đến con thơ đầu xanh tuổi trẻ, ngày đêm ai kẻ bồng bế, thì lòng thiếp không nguôi cơn giận, khó nỗi khuây sầu…”
Thôi…nhưng …mà…ly hiệp bởi trời, hoan bi thường sự, bây giờ dẫu phiền sầu cho ra tóc bạc mà khóc cho chảy máu đào, cũng là vô ích.
Vậy, thiếp kính lậy phu quân, xin phu quân đừng quá thương tâm, mà không giữ nổi mình vàng vóc ngọc. huống chi con còn măng sữa, anh em chẳng có một ai, bây giờ thiếp phải về chốn Thiên Cung, chỉ có một mình phu quân, khi đau ốm lúc sầu phiền, lấy ai là người giúp đỡ, xin phu quan nghĩ lại, thiếp cũng biết sinh ly từ biệt thê thảm nhường nào, kể sao cho xiết, thứ cảnh thứ tình để cho phu quân trăm bề thống khổ, lòng thiếp thê thảm trăm đường cũng như phu quân vậy.”
Đức Mai Sinh nghe nói, mắt vía hồn kinh, chân tay rời rã, rồi nói rằng:
“ Tiên, trần xa cách, may được kết duyên, nghĩa vợ chồng lẽ nào mà quên được; ôi ! sao mà dễ hiệp lại dễ ly như thế ư .”
Đức Tiên Chúa thưa rằng:
“ Thiếp thờ phu quân đã bao nhiêu nay, xin phu quân lượng xét, thiếp không phải ham chơi bồng đảo, mà quên nghĩa tào khang, nhưng kỳ hạn quy tiên đã bức cận, không thể lưu lại được nữa.” Đức Mai Sinh nghe Tiên Chúa nói dứt lời thì Đức Mai Sinh lấy làm kinh hoàng, nức nở khóc không nói phô gì được nữa, đến cuối canh ba khi giờ sửu, Đức Tiên Chúa bồng con đến trước mặt Mai Sinh, Đức Tiên chúa khuyên giải một hồi, rồi cúi xuống lậy Mai Sinh hai lậy, để xin từ biệt; lậy rồi cầm lấy tay Mai Sinh khóc nức nở, tình cảnh thê thảm, Đức Tiên Chúa hết sức đau lòng.
Bỗng nghe có tiếng xe loan đã đến gần trước thềm nhà, Đức Tiên Chúa lại phân giải ít lời nữa, rồi bồng con trao cho Đức Mai Sinh.
Đức tiên Chúa quá đau đớn, lắm tay Đức Mai Sinh và tay con, một cách thê thảm vô hạn…kế lạy Mai Sinh mà bái biệt.
Đức Mai Sinh muốn níu lấy vạt áo, nhưng khi thấy ánh hào quang rực rỡ, thơm ngát cả nhà, Đức Tiên Chúa không còn ở chỗ đó nữa, Đức Mai Sinh xót ruột đau lòng quá độ, bổ nhào xuống đất, ngất đi một hồi lâu mới tỉnh.
Thế là Đức Tiên Chúa bái biệt Đức Mai Sinh khi đó hoá ra đạo Hào Quang sáng rực, mà đẳng không nhỉ thượng cả chơn hình, tức là hạ tuần tháng chạp năm canh tuất, niên hiệu Hoàng định thập nhất niên, triều vua Lê Kính Tôn ( 1610 ) là hơn một năm.
Từ đó trở đi, Đức Mai Sinh ngày đêm rầu rĩ, chiều sớm nhớ thương, rượu không uống thơ không ngâm, việc quan bê trễ.
Thường thường than rằng:
“ Phàm người ta đi học ra làm quan, trên là vì nước, dưới là vì nhà, như ta đây đã không có tài kinh bang tế thế, và trên không có mẹ cha, dưới không có vợ và anh em lại đeo lấy cái luỵ độc túc cô phòng, thế là có phải vì sự ăn mặc hay sao, mà còn đeo vào vòng danh lợi ”.
Nghĩ vậy rồi dâng sớ xin về hưu, về làm một cái nhà giữa rừng đào khi xưa đã gặp Đức Tiên Chúa, để dạy con thành tài trọn đời ở vậy.

__________________

MẪU ĐỆ NHỊ THƯỢNG NGÀN

Hay còn gọi là Lâm Cung Thánh Mẫu hoặc Bà Chúa Thượng Ngàn là một trong ba vị mẫu được thờ cúng tại điện Mẫu, cạnh đình, chùa của người Việt, chủ yếu ở miền bắc và miền trung Việt Nam. Bà được tạc thành hình một phụ nữ đẹp, phúc hậu, ngồi ở tư thế thiền, chân xếp bằng và hai tay chắp và mang trang phục màu xanh.
Mẫu Thượng Ngàn được đặt cùng hai vị mẫu kia là Mẫu Liễu HạnhMẫu Thoải hoặc được thờ riêng trong một điện. Việc thờ phụng Mẫu Thượng Ngàn là một đặc điểm của tín ngưỡng gắn liền với núi rừng của người Việt. Bà là một nhân vật mang tính truyền thuyết và đóng vai trò quan trọng trong tín ngưỡng hầu bóng tam phủ hay tứ phủ.
Có thuyết cho rằng bà là con gái của Sơn Tinh (tức Tản Viên Sơn Thánh)Mỵ Nương và công chúa (trong truyền thuyết Sơn Tinh-Thủy Tinh cả hai cùng cầu hôn Mỵ Nương, con gái vua Hùng). Khi còn trẻ, Mẫu là một cô gái đức hạnh, lại tài sắc vẹn toàn, được cha mẹ đặt tên là La Bình.
La Bình thường được cha cho đi cùng, đến khắp mọi nơi, từ miền núi non hang động đến miền trung du đồi bãi trập trùng. Trong địa hạt mà Tản Viên Sơn Thánh cai quản, ông đã dạy dân không thiếu điều gì, từ săn bắn thú dữ đến chăn nuôi gia súc, từ trồng cây ăn quả, trồng lúa nương đến việc đắp ruộng bậc thang, trồng lúa nước v.v. hay dựng nhà dựng cửa, hái cây thuốc chữa bệnh. Ông cũng thường cùng các vị sơn thần, tù trưởng luận đàm thế sự và bàn soạn công việc. Do luôn luôn được theo cha như thế nên La Bình cũng học hỏi được rất nhiều điều. Vốn thông minh sáng dạ, lại chăm chỉ thực hành nên việc gì La Bình cũng biết, cũng giỏi. Những khi Sơn Tinh bận việc hay không thể đi khắp những nơi mà dân chúng cần đến thì La Bình thường được cha cho đi thay. Những lần như thế, La Bình luôn tỏ ra là một người đầy bản lĩnh, biết tự chủ trong giao tiếp, lại cũng biết thành thạo trong mọi công việc.
Các sơn thần, tù trưởng đặc biệt quý trọng nàng, coi nàng là người đại diện xứng đáng của Sơn Thánh. Còn bản thân nàng, chẳng những hòa hợp, ân cần với mọi người, mà còn rất thân thuộc, quyến luyến với phong cảnh, từ cây cỏ hoa lá đến hươu nai chim chóc …
Khi Tản Viên và Mỵ Nương, theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế trở về trời thành hai vị thánh bất tử thì La Bình cũng được phong là công chúa Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi tất cả 81 cửa rừng và các miền núi non hang động, các miền trung du đồi bãi trập trùng của nước Nam.
Trở thành chúa tể của miền núi non và trung du, công chúa Thượng Ngàn vẫn luôn luôn chăm chỉ, hàng ngày hết sức làm tròn các trọng trách của mình. Bà bảo ban các loài cầm thú phải biết sống hòa hợp với nhau, dạy chúng đừng ăn những loài quả độc, nấm độc, biết tránh khỏi những cây cối đổ, những cơn lũ quét …
Bà dạy bảo con người cũng thật chu đáo, tỉ mỉ. Những gì cha bà đã dạy, bà đều đem ra áp dụng. Khi tiếp xúc với các tù trưởng, bà cũng học thêm ở họ được nhiều điều. Thế là bà lại đem những điều hiểu biết mới đi truyền bá ra mãi.
Bà cải tiến và hoàn thiện thêm những gì mà trước kia, ở cha bà mới chỉ là bắt đầu. Làm nhà không những đã chắc chắn, lại còn phải biết chạm trổ cho thật đẹp đẽ. Ở mũi các thuyền độc mộc cũng thế, có khắc cả hình hai đầu rồng chạm hẳn vào nhau. Cách nấu nướng thức ăn, chẳng những chỉ có kho, luộc mà còn chế thêm ra được nhiều món mới. Rồi công việc đồng áng, bà dạy mọi người cách lấy ống bương để dẫn nước từ khe núi xuống. Lại đi phân phát hạt giống, cho nên nơi nào cũng có cơm dẻo nếp thơm. Trong các con vật nuôi trong nhà, bà đem về thêm nhiều giống gia súc mới. Lại trồng thêm nhiều giống cây ăn quả. Rồi trồng cả những hoa thơm cỏ lạ lấy từ trên rừng núi về …
Ngọc Hoàng Thượng đế còn ban tặng cho bà thêm nhiều phép thuật thần thông, đi mây về gió, và trở thành vị Thánh bất tử để luôn luôn gần gũi, gắn bó với cõi trần, vĩnh viễn ở miền trung du và núi non hùng vĩ. Khi dân chúng sinh sôi nảy nở ra thêm, từ miền núi non và trung du tràn xuống các miền đồng bằng và ven biển, đã mang theo những cách thức làm ăn và phong tục tập quán từ hồi còn ở trong rừng, dưới sự bảo ban dìu dắt của công chúa Thượng Ngàn.
Cùng với nhiều vị thần thánh khác, công chúa Thượng Ngàn vẫn ngày đêm lặng lẽ âm phù cho sự bình yên của mọi người dân nước Việt. Nhiều người gọi bà là Mẫu, một cách vừa trìu mến gần gũi mà cũng vừa tôn kính.
Người ta cho rằng các chiến công quân sự của nhiều triều đại Việt Nam đều có sự phù hộ của bà. Vì thế, các triều đại này, sau khi thắng lợi đều có lễ tạ ơn và có sắc thượng phong cho bà là công chúa.
Một truyền thuyết cho rằng hồi đầu thời kỳ khởi nghĩa Lam Sơn, lúc ấy lực lượng nghĩa quân còn yếu, đang đồn trú ở Phản Ấm thì quân Minh kéo đến bao vây. Nghĩa quân người ít chống cự không nổi, phải tan tác mỗi người mỗi nơi. Trong đêm tối, công chúa Thượng Ngàn đã hóa phép thành bó đuốc lớn, soi đường cho quân sĩ, tập hợp và dẫn dắt họ đi vào đất Mường Yên, về cơ sở núi Chí Linh. Ánh đuốc thiêng của bà, chỉ quân sĩ của Lê Lợi biết được, còn quân Minh không thể nào nhìn thấy.
Ở Chí Linh, nghĩa quân vừa sản xuất, vừa tập luyện và tập hợp, phát triển thêm lực lượng. Thật gian khổ, lắm phen không còn lương thực, phải lấy củ nâu củ mài thay cơm, nhưng nhờ sự che chở của công chúa Thượng Ngàn, quân đội của Lê Lợi vẫn ngày một thêm lớn mạnh. Quân Minh nhiều lần đến bao vây cũng đành phải chịu rút về. Từ Chí Linh, quân Lê Lợi tiến vào giải phóng Nghệ An, Thuận Hóa. Sau đó, với những trận thắng oanh liệt ở Tốt Động, Chúc Động, Chi Lăng và cuối cùng, bao vây quân Minh ở Đông Quan để kết thúc cuộc chiến, lập lại hòa bình cho nước Việt.
Công chúa Thượng Ngàn, cũng như nhiều vị thần thánh khác, được nhiều người tôn thờ, và được coi là hồn thiêng của sông núi, bao nhiêu đời nay dẫn dắt con cháu vững bước đi lên. Bà có mặt ở khắp nơi, theo bước chân của dân chúng, khi ở miền rừng núi rồi xuống miền đồng bằng. Vì vậy, ở nhiều nơi người dân lập điện thờ, thờ phụng bà. Tuy nhiên, đại bản doanh của bà vẫn là vùng núi non và các cửa rừng. Những người đi rừng, muốn được bình yên, vạn sự tai qua nạn khỏi, thường đến cầu xin sự che chở, phù trợ của bà. Ai muốn săn bắt hay khai thác thứ gì trong rừng, cũng đặt lễ, thắp hương, cầu xin để được bà chấp thuận.

__________________

ĐỆ TAM THÁNH MẪU

Thủy cung Thánh Mẫu (còn gọi là Mẫu Thoải, chữ thoải là đọc chệch từ chữ thủy) là vị nữ thần dân gian Việt Nam chịu trách nhiệm quản lý các miền sông nước.
Theo quan niệm dân gian Việt Nam, Mẫu Thoải có mặt ở khắp mọi nơi để âm phù.
Mẫu Thoải giúp đỡ mọi người mỗi khi đi qua các vùng sông nước. Do vậy, mỗi khi bước xuống đò, qua một khúc sông rộng, người ta thường lẩm nhẩm cầu khấn, xin Mẫu phù hộ độ trì. Mỗi khi có hạn, Mẫu phái tướng sĩ đi lo việc làm mưa. Còn khi bão lụt, Mẫu lại hóa phép để gió yên, mưa tạnh. Các loài thủy quái, thủy tặc, do có các thần tướng của Mẫu canh chừng, nên cũng không thể tùy tiện tác oai, tác quái.
Trong dân gian, Mẫu Thoải là hình ảnh của bà mẹ hiền lành, đảm đang, suốt đời lo lắng cho con dân Việt, bá tánh.
Mẫu Thoải được thờ tại hầu hết các đền chùa có bàn thờ Mẫu. Mẫu còn được thờ làm thành hoàng ở một số vùng thời xưa chuyên nghề sông nước. Giỗ là ngày 12 Tháng Sáu âm lịch khi các con hương đệ tử làm lễ cúng tế rất lớn[1]. Ở điện thờ Mẫu, nếu có đặt ba pho tượng nữ, giống nhau ở gương mặt, tư thế ngồi, và chỉ khác ở trang phục, thì ở bên phải là Mẫu Thượng ngàn, ở giữa là Mẫu Liễu, còn bên trái là Mẫu Thoải. Tại các tượng hoặc ảnh thờ, Mẫu Thoải thường có trang phục màu trắng.
Có thuyết nói Mẫu là vị thần lưỡng tính. Lưỡng tính theo nghĩa: Mẫu là phụ nữ, nhưng được Ngọc Hoàng Thượng đế ban cho sức mạnh và tài năng, nhất là tài sông nước, như nam giới. Thuyết này cho rằng Mẫu Thoải là vợ của vua Thủy Tề, là Hoàng hậu ở dưới Thủy cung. Vua Thủy Tề trông coi các việc ở biển, còn Mẫu trông coi các việc ở sông, suối. Do sông suối có ở khắp nơi nên Mẫu cũng có mặt ở khắp nơi, nhất là tại các bến sông lớn. Một ví dụ cho thuyết này: ở làng Viêm Xá, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Mẫu Thoải được thờ là Thành hoàng và có sắc thượng phong đề “Nhữ Nương Nam nữ Nam Hải Đại Vương”.
Lại một thuyết khác cho rằng Mẫu Đệ Tam không phải một, mà là ba. Ba mẫu này là con gái của Lạc Long QuânÂu Cơ. Trong số các con, Lạc Long Quân đã chọn ba người giao cho việc cai quản sông biển nước Nam.

  • Thủy tinh Động đình Ngọc nữ Công chúa.
  • Hoàng Bà Đoan khiết Phu nhân,
  • Tam giang Công chúa.

Ba bà đóng dinh cơ ở sông Nguyệt Đức và có nhiệm vụ coi sóc các sông nước, luồng lạch, dạy dân chế tạo thuyền bè và đan các thứ lưới bắt cá, chế ngự các vị thần mưa, thần gió mỗi khi các vị này lạm công, xâm hại đến hạ giới. Các Mẫu còn làm mưa và giúp dân chống lụt.
Một thuyết khác, mà có lẽ được nhiều người nghĩ đến nhất là: Mẫu Đệ Tam vốn là con gái Vua Thủy Tề, ở chốn Long Giai. Bà kết duyên cùng Kính Xuyên (là con Vua Đất). Khi Kính Xuyên đi vắng, bà ở nhà khâu vá, chẳng may kim đâm vào tay chảy máu, chầu lấy tấm vải lụa trắng để thấm máu. Thảo Mai, tiểu thiếp của Kinh Xuyên, vốn đã sinh lòng đố kị từ lâu, nhân cơ hội đó giấu tấm lụa đi, đến khi Kính Xuyên về, Thảo Mai lấy ra rồi vu oan cho bà ở nhà đã cắt máu thề nguyền để tư thông cùng kẻ khác. Kính Xuyên không nghe lời thanh minh, ghen tuông mù quáng, một mực bắt đóng cũi bỏ bà lên rừng cho thú dữ ăn thịt. Ở nơi rừng núi, bà được muôn loài quý mến, dâng hoa quả nước uống cho bà. Đến một ngày kia thì bà gặp được Liễu Nghị, vốn là thư sinh, nhờ tập ấm cha mẹ để lại nên đèn sách chuyên cần. Hôm đó trên đường đi thi thì chẳng may bị lạc vào nơi bà bị đày ải. Thấy bà vậy, Liễu Nghị đến hỏi han, sau khi biết rõ sự tình, Liễu Nghị nguyện kết duyên cùng bà. Nhưng bà từ chối, sau đó lấy máu, viết thư nhờ Liễu Nghị mang về đến chốn Long Cung để vua cha thấu hêt sự tình rồi sẽ định liệu sau. Theo lời bà, Liễu Nghị ra đến sông Ngân Hán, là mái Long Giai ngoài biển Đông, thấy có cây ngô đồng, Liễu Nghị rút cây kim thoa, gõ vào cây ba lần. Tức thì gió giật mưa sa, biển động ầm ầm, giữa dòng thấy hiện lên đôi bạch xà, Liễu Nghị bèn trình bày mọi việc, đôi bạch xà vâng lệnh đưa Liễu Nghị xuống Thủy Cung. Tại đây, Liễu Nghị trao cho Vua Thủy Tề bức thư và kể hết mọi chuyện. Vua cha tức giận, sai người đi bắt Kính Xuyên và Thảo Mai, còn truyền cho Trưởng Tử Xích Lân lên đón bà về. Sau đó bà được rước về Thoải Phủ, kết duyên cùng Liễu Nghị, người được giao cho chức Quốc Tế Thủy Quan. Còn Kính Xuyên và Thảo Mai thì bị gia hình chịu tội (Câu Chuyện này được lưu lại trong tích “Liễu Nghị truyền thư”).

Theo các bản tích, truyền tích để lại, dù là thuyết nào đi nữa, thì người quản cai miền thoải phủ trong hệ thống tứ phủ, là một người phụ nữ đầy quyền năng, đức độ, nhân từ… Dù là có thật hay là sản phẩm của trí tưởng tượng ưu việt của con dân việt, thì Mẫu vẫn tồn tại, trị vị, sống động và chân thực nhất như những giá trị tinh túy của sự sống, theo quan niệm đơn thuần: “ có thờ có thiêng, có hiển tất có linh”

__________________

CHÚA ĐỆ NHẤT TÂY THIÊN

Chúa Bà Đệ Nhất Tây Thiên là bà chúa thượng dưới thời Hùng Vương. Bà là người con gái sinh trưởng trong một gia đình có dòng dõi Hùng Vương. Tương truyền rằng đức thân mẫu của bà nằm mơ thấy tiên nữ từ đám mây ngũ sắc hạ trần, rồi mang thai và sinh ra chúa bà. Càng lớn lên, bà càng sinh đẹp giỏi giang, sau lại tập hợp quân dân giúp Vua Hùng đánh đuổi giặc Ân. Sau này, đến ngày hóa, bà được quần tiên đón rước về chầu Đế Đình.
Chúa Bà Đệ Nhất Tây Thiên là bà chúa thượng dưới thời Hùng Vương. Bà là người con gái sinh trưởng trong một gia đình có dòng dõi Hùng Vương. Tương truyền rằng đức thân mẫu của bà nằm mơ thấy tiên nữ từ đám mây ngũ sắc hạ trần, rồi mang thai và sinh ra chúa bà. Càng lớn lên, bà càng sinh đẹp giỏi giang, sau lại tập hợp quân dân giúp Vua Hùng đánh đuổi giặc Ân. Sau này, đến ngày hóa, bà được quần tiên đón rước về chầu Đế Đình.
Chúa Đệ Nhất là người ban lộc bói toán và cúng lễ. Bà rất ít khi ngự đồng. Thông thường, trong lễ khai đàn mở phủ mà có dâng đàn Chúa Bói thì người ta thường thỉnh bà về chứng tòa Chúa Đệ Nhất màu đỏ. Khi ngự đồng, chúa mặc áo đỏ (áo lụa thêu phượng hoặc áo gấm), cầm quạt khai quang.
Chúa Tây Thiên không có đền thờ chính mà chỉ được thờ trên Đền Hùng thuộc tỉnh Phú Thọ và bà cũng được thờ cận bên Mẫu Tây Thiên ở Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Theo một tài liệu thì ngày tiệc của Chúa Đệ Nhất Tây Thiên là ngày 10/5 âm lịch (tương truyền là ngày chúa giáng hạ trần phàm).

__________________

CHÚA ĐỆ NHỊ NGUYỆT HỒ

“Ai lên tới trung du Hà Bắc

Hỏi thăm đền Chúa Nguyệt nơi đâu

Hỏi thăm ra phố kép đi vào

Đền thờ chúa Nguyệt động đào cảnh tiên

Bốn mùa hoa quả dâng lên

Người người tấp lập đôi bên tìm vào

Ngự ngôi cao dầu dầu nét mặt

Chíêc quạt son Chúa ngự phía sau

Lá giầu cùng với quả cau

Tiền vàng thiếp cháp sơn màu xanh lam

Anh linh lừng lẫy trên ngàn

Tam toà Chúa bói anh linh ai tầy

Dân nhớ ơn lập đền phụng sự”
Chúa Bà Đệ Nhị Nguyệt Hồ là bà chúa bói dưới thời Hùng Vương (có tài liệu lại nói chúa cũng giáng thế dưới thời Lê Trung Hưng, lại có tài liệu nói bà là con gái nuôi của Vua Hùng). Tương truyền rằng, chúa bà vốn là người thôn nữ ở đất Bắc Giang, từ nhỏ đã sống trong cảnh cơ hàn: vừa bị mù lòa lại vừa mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhưng bà là người rất tốt bụng, thảo hiền, có lòng nhân hậu, vì vậy, Lão Tổ Quỷ Cốc Tử Tiên Sinh đã truyền dạy cho bà những đạo pháp của mình (thuật chiêm tinh, bói toán) và đặt tên hiệu cho bà là Nguyệt Hồ (hoặc có nơi gọi là Nguyết Hồ). Sau khi đã học được phép của Tiên Sinh, bà dành hết cuộc đời mình để làm phúc cho dân lành. Chẳng bao lâu, danh tiếng đồn của Chúa Nguyệt Hồ đã lan tới kinh đô, đức vua bèn truyền chỉ, mời chúa về kinh đô (theo một số tài liệu ghi thì Vua Hùng nhận bà làm con nuôi), mỗi lần ra trận, vua đều cho người đến thỉnh cầu, nhờ chúa bà bấm đốt tay, xem lành dữ và hỏi chuyện quân cơ, mưu lược, bày binh bố trận.
Trong Tam Vị Chúa Mường thì bà Chúa Nguyệt là bà chúa bói danh tiếng bậc nhất và rất hay ngự đồng. Thông thường, khi có mở đàn Chúa Bói mà không thỉnh được cả Tam Vị Chúa Mường về ngự thì người ta thường hay thỉnh bà về chứng cả ba tòa chúa (Màu đỏ, màu xanh và màu trắng) còn bình thường thì chúa về chứng tòa Chúa Đệ Nhị màu xanh. Khi ngự đồng, chúa mặc áo xanh, múa mồi. Đôi khi chúa ngự về còn dùng lá trầu quả cau để xem bói, phán bảo trần gian. Ngày nay, nhiều thanh đồng thường lên đền Chúa làm lễ mở quạt chúa bói, để xin chúa anh linh mà trợ giúp ( đối với người có lộc soi, bói)

Chúa Nguyệt Hồ được thờ chính tại Đền Nguyệt Hồ ở gần ga Kép, chợ Bố Hạ, tỉnh Bắc Giang (tương truyền là nguyên quán của Bà Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ khi xưa). Tiệc của Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ là ngày 15-16/2 âm lịch.

__________________

CHÚA ĐỆ TAM LÂM THAO

Là vị thứ ba trong Tam vị chúa Mường. Ngoài ra, còn vài vị chúa khác nữa, như chúa Cà Phê, chúa Tộc Mọi…. Là vị chúa rất hay về ngự, sau chúa Nguyệt Hồ.
Chúa Bà Đệ Tam Lâm Thao là bà chúa chữa dưới thời Hùng Vương. Bà còn có tên là Bà Chúa Ót (theo một số ý kiến thì Tam Vị Chúa Mường có bà chúa Lâm Thao là bà chúa thỉnh cuối cùng nên được coi là út, đọc chệch đi là Bà Chúa Ót). Tương truyền rằng, bà là công chúa, con gái ruột của Vua Hùng, từ bé đã bị hỏng một bên mắt. Tuy vậy bà vẫn một lòng giúp vua cha trị quốc, bà là người lo việc quân nhu quân lương trong các cuộc chiến trận, ngoài ra bà còn là người có tài bốc thuốc nam, bà đi khắp vùng đem tài năng của mình để cứu giúp dân lành. Bà Chúa Đệ Tam Lâm Thao cũng là một người có lòng mộ đạo, thường xuyên ăn chay niệm phật để cầu cho quốc thái dân an.
Chúa Bà Lâm Thao cũng là vị chúa rất hay ngự về, sau Chúa Nguyệt Hồ. Như hai vị chúa trên, khi người ta dâng đàn Chúa Bói thì thường thỉnh chúa về chứng tòa Chúa Đệ Tam màu trắng. Khi về đồng bà thường mặc áo trắng, có nơi khi hầu bà thì múa mồi như Chúa Bà Đệ Nhị Nguyệt Hồ, nhưng có nơi hầu chúa lại chỉ dùng quạt khai quang.
Chúa Lâm Thao được thờ chính tại Đền Lâm Thao ở Cao Mại, Việt Trì, Phú Thọ (tương truyền là nơi khi xưa chúa lập kho quân nhu quân lương và bốc thuốc cứu dân). Ngày tiệc của Bà Chúa Ót tương truyền là 25/12 âm lịch.

__________________

CHÚA BÀ NĂM PHƯƠNG BẢN CẢNH

Bà Chúa Năm Phương. Vốn xưa bà cũng là tiên nữ trên Thiên Đình. Sau chúa giáng thế hạ trần vào nhà họ Vũ ở cửa Cấm Giang, đất Gia Viên (nay là Hải Phòng). Chúa sinh ra hình dung tươi tốt, mọi bề đảm đang. Khi đã hồi tiên, Chúa Bà được giao quyền cai quản năm phương trời đất, bản cảnh bản xứ ngũ phương vậy nên được tôn xưng là Bà Chúa Quận Năm Phương (hay còn có tên khác là Vũ Quận Bạch Hoa Công Chúa). Tương truyền rằng, chúa hiển linh, ngự khắp nơi khắp cảnh trong năm phương trời đất, chúa dạo chơi khắp chốn, cứ đúng vào lúc canh ba giờ Tí, chúa hiện hình ra người mĩ nữ, gọi xe rong chơi, rồi đi về đến “Cây Đa mười ba gốc” là nơi chúa hiển linh, trả tiền cho phu xe, nhưng khi biết ra thì toàn là tiền âm. Chúa cũng thẳng tay trừng trị kẻ nào còn ngang ngược, chúa hành cho chân tay tê liệt, nằm mơ toàn thấy ma quỷ. Cũng có một câu chuyện truyền lại là: vào thời Pháp thuộc có một me Tây bị chúa hành cho chí rận, khắp người ngứa ngáy không yên, phải đến kêu xin, sám hối cửa chúa thì được khỏi, tạ ơn chúa, me Tây đó đã lập đền thờ rất trang nghiêm, quanh năm cũng lễ rất tấp nập.
Chúa Bà Năm Phương chỉ được hầu ở một số vùng (đặc biệt là Hải Phòng là nơi sinh quán quê nhà của Chúa Bà năm xưa). Hải Phòng và một số địa phương lân cận, trong các đàn lễ mở phủ thường có dâng một tòa đàn gọi là: Đàn Chúa Bà (gồm có hình Chúa Quận Năm Phương, hai cô hầu cận, có khi là có cả hình 12 cô nàng (tất cả đều màu trắng), nón chúa hài cườm, một cỗ xe ngựa (hoặc xe phu kéo) hay thường gọi là Xe Chúa Bà) và thỉnh mời Chúa Bà Năm Phương về ngự để chứng đàn đó. Chúa Năm Phương thường ngự về trước Chầu Năm Suối Lân hoặc cũng có một số người hầu chúa sau Tam Vị Chúa Mường. Chúa ngự về thường mặc áo trắng (hoặc có khi chỉ choàng chiếc khăn phủ diện) làm lễ khai cuông rồi cầm tiền tung lên trên ban Công Đồng trong bản đền bản điện để khai quang chứng đền, chứng điện, chứng đàn, chứng phủ (ở một số nơi khác còn hầu chúa về múa quạt hoặc múa mồi).
Đền Chúa Bà Năm Phương được lập ở rất nhiều nơi, nhưng nổi tiếng hơn cả là một số ngôi đền ở nguyên quán Hải Phòng, đất chúa ngự: đầu tiên phải kể đến Chùa Cấm thuộc Phố Cấm, Hải Phòng (tên tự là Cấm Giang Bản Cảnh Linh Từ hay Nguyệt Quang Tự, trong bản tự có hẳn cung cấm bề thế uy nghiêm thờ chúa), sau đó là Vườn Hoa Chéo, trên đường Trần Hưng Đạo, Hải Phòng (đây là nơi trước đây người me Tây kia lập đền tạ ơn chúa, đền xưa rất lộng lẫy, nhưng bây giờ đã không còn do tàn phá của chiến tranh, chỉ còn lại dấu tích nhỏ nhưng vẫn là nơi linh thiêng, hàng tháng có rất nhiều người dân đến đây lễ chúa), rồi “Cây Đa mười ba gốc” là ngôi miếu nhỏ thờ chúa (ở trên đường ra sân bay Cát Bi) là nơi chúa gọi phu xe chở về chốn đó, có cả Đền Tiên Nga cũng thuộc đường Lê Lợi, Hải Phòng, cuối cùng là ngôi miếu nhỏ không tên trên đường Lê Thánh Tông. Các ngôi đền đó đều tổ chức ngày tiệc chúa là ngày 16/6 âm lịch. Tính ra, xưa kia, trên đất Hải Phòng có ít nhất là năm nơi thờ Chúa Bà.

__________________

CHÚA THÁC BỜ

Tương truyền, 2 bà đã có công giúp vua Lê Lợi vượt thác Bờ tiến quân lên M­ường Lễ, Sơn La dẹp loạn đảng Đèo Cát Hãn. Sau khi mất, 2 bà thường hiển linh giúp dân vượt thác an toàn, phù hộ cho trăm dân trong vùng mưa thuận, gió hoà nên nhân dân đã phong 2 bà làm thánh và lập đền thờ phụng từ đó.
Đền Thác Bờ là loại hình di tích khá hiếm hoi và quý giá của huyện Đà Bắc. Hàng năm di tích này đã đón rất nhiều du khách đến thăm quan và cầu phúc. Việc được công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh góp phần khẳng định và lưu giữ giá trị lịch sử, văn hoá của ngôi đền này.
Hiện nay, còn có động Thác Bờ, thờ chúa thác, mới được nhà nước cấp di tích lịch sử quốc gia, gần đền Thác bờ, Động do tự nhiên tôn tạo, rất đẹp và linh thiêng. Đến đền Chúa Thác, hay động Thác Bờ, chúng ta được du thuyền ngoạn cảnh khoảng gần 1 tiếng, phong cảnh hữu tình nên thơ. Đến một lần để rồi nhớ mãi.
Ngày tiệc của chúa Thác là 12/4 hàng năm.

__________________

CHÚA TỘC MỌI

Chúa Mọi cũng là một bà chúa bói, đúng như danh hiệu, bà là bà chúa của tộc người Mọi người rừng từ rất xa xưa. Hiện nay thì mọi tài liệu kể về sự tích cũng hiển tích của chúa rất ít, hầu như là không có nên chúa cũng được khá ít người biết tới. chúa tộc mọi là chúa có tính Bản Địa ( mang tính địa phương, không hẳn nằm trong hệ thống tứ phủ)
Chúa Mọi cũng là một bà chúa bói, đúng như danh hiệu, bà là bà chúa của tộc người Mọi người rừng từ rất xa xưa. Hiện nay thì mọi tài liệu kể về sự tích cũng hiển tích của chúa rất ít, hầu như là không có nên chúa cũng được khá ít người biết tới.
Chúa Mọi hầu như không mấy khi ngự về đồng, trong số ít những người hầu, Bà Chúa Tộc Mọi thường mặc áo đen (hoặc áo chàm) và chúa về cũng múa mồi.
Theo truyền miệng (và cũng chưa xác định được chính xác) thì đền thờ chúa cũng ở Lạng Sơn, từ Đền Công Đồng Bắc Lệ đi vào đến cửa rừng Thất Khê, Đèo Kẻng thì khi xưa có ngôi đền chúa. Còn lại một câu hát văn lưu truyền là để thỉnh chúa như sau:
“Khắp Sơn Lâm nức danh Chúa Mọi
Tiếng vang lừng khắp cõi Nam Bang”

__________________

CHÚA CÀ PHÊ

Chúa Cà Phê là bà chúa bói người Nùng từ thời thượng cổ (chưa có tài liệu nào ghi chính xác là Chúa Cà Phê giáng hạ dưới thời nào), chỉ biết rằng trong các vị Chúa Bói trên ngàn, bà là người có nhiều quyền phép nhất (có một số quan niệm cho rằng Bà Chúa Cà Phê là Bà Tổ Chúa Bói, tức là bà chúa bói đầu tiên của nước Việt ta), tuy nhiên bà lại sống ẩn dật trong núi, không xuất thế vậy nên ít người biết tới bà, vậy nên tuy thế nhưng bà vẫn phải thỉnh sau Tam Vị Chúa Mường.
Chúa Cà Phê không hay về ngự đồng như Tam Vị Chúa Mường, nhưng nếu có đại tiệc mở đàn Chúa Bói thì người ta cũng hay thỉnh Chúa Bà về. Khi giáng đồng chúa thường mặc áo đen (có nơi hầu Chúa lại mặc áo xanh hoặc áo vàng, tuy nhiên khá ít người hầu chúa mặc màu áo như vậy), chúa về đồng cũng múa mồi.
Đền thờ Bà Chúa Cà Phê ở trong vùng rất hoang vu heo hút (thậm chí còn chưa có mạng lưới điện chạy tới), đó là ngôi đền nhỏ gọi là Đền Chúa Cà Phê ở trong miền Phố Vị, Lạng Sơn. Chúa ít khi ngự đồng nên văn chúa cũng khá ít, chỉ có một hai câu khi thỉnh chúa như
“ Hách danh Chúa Bói Cà Phê
Lên chơi Phố Vị, trở về Tam Thanh”

__________________

ĐỨC ĐẠI VƯƠNG TRẦN TRIỀU

Trong đạo Mẫu, Đức thánh cha là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn – vị tướng tài ba của Việt Nam và thế giới, văn võ song toàn, tinh anh kiệt xuất. Là người có công lớn nhất triều Trần trong ba lần đánh bại quân Mông Nguyên.
Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Ông là con An Sinh Vương Trần Liễu, cháu gọi vua Trần Thái Tôn là chú ruột, sinh ngày 10/12 âm lịch. Còn có truyền thuyết kể lại rằng, nguyên xưa kia Đức Thánh Tản Viên thấy luồng khói trắng bay từ núi Tây hóa thành tinh thuồng luồng, xuống nhà người đàn bà kia tư thông, ngài nghĩ ắt hẳn đó sẽ đầu thai thành kẻ gây hậu họa cho nhân gian (tên đó sau này chính là Phạm Nhan_Nguyễn Bá Linh, cha là người Tàu Phúc Kiến, mẹ là người Đông Triều, nằm mơ thấy tinh thuồng luồng mà sinh ra hắn), vậy nên Đức Thánh Tản liền đem tâu chuyện đó với Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng hỏi rằng ai có thể xuống hạ phàm để trừ diệt mối hậu họa đó thì có Thanh Tiên Đồng Tử tình nguyện xin xuống phàm để giúp dân. Ngọc Đế ưng thuận sai ban thần kiếm, cờ ấn, tam tài của Lão Tử, ngũ bảo của Thái Công rồi truyền Kim Đồng Ngọc Nữ hộ giá xe mây xuống nước Nam hạ phàm. Liền đó Vương Mẫu nằm mơ thấy có người áo xanh tự xưng là người của Thiên Đình xuống đầu thai phù đời, từ ấy bà hoài thai, đủ ngày đủ tháng thì hạ sinh được ông, trong nhà ngào ngạt hương thơm và ánh sáng.

Sau này ông giúp vua Trần hai lần chống giặc Nguyên Mông, ông sinh được bốn người con trai (thường gọi là tứ vị vương tử) và hai người con gái (thường gọi là nhị vương cô hay nhị vị vương bà) đều có công lao giúp vua Trần chống giặc Nguyên, ngoài ra trong công cuộc “Sát Thát” còn có rất nhiều đóng góp của vương tế của ông là Phạm Ngũ Lão Điện Súy (thường gọi là Đức Thánh Phạm Điện Súy hay Phù Ủng Đại Vương) cùng các tướng tài của ông như: Dã Tượng, Yết Kiêu (thường gọi là đôi bên Đức Ông Tả Hữu)… Có thể nói trong công cuộc bảo vệ đất nước dưới thời Trần, có công đóng góp không nhỏ của gia đình ông. Hơn nữa ông còn là người một lòng vì nước vì dân, vì nghĩa lớn mà quên đi mối thù nhà: ông không nghe lời cha giành lại ngai vàng từ tay vua Trần, vậy nên được vua Trần nể trọng, tin tưởng, thường hỏi ý kiến ông về những việc đại sự quốc gia. Ông mất vào ngày 20/8 âm lịch.Sinh thời, do công lao lớn của mình, Đức thánh Trần phong là Quốc Công Tiết Chế Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương hay là Đức Thượng Từ. Vua Trần Anh Tông ( xét về thứ bậc thì vừa là cháu lại là cháu rể của ông, vì vua lấy Cô Bé Cửa Suốt_Tĩnh Huệ Công Chúa tức là cháu gái của ông) phong ông là Đức Thượng Phụ Thượng Quốc Công Bình Bắc đại nguyên soái Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương (tước hiệu này nếu xét theo thời đại của chúng ta thì sẽ là: Ủy viên bộ chính trị, bí thư quân ủy trung ương, Nguyên Súy, Bộ trưởng Bộ quốc phòng. Sau này , khi mất đi tên tuổi ông vẫn vang lừng không chỉ trong Việt Nam mà còn lan ra toàn thế giới (ông là một trong số 10 vị tướng tài ba nhất trên thế giới, cùng với các vị như Nã Phá Luân (Napoleon), Thành Cát Tư Hãn… là những người có ý nghĩa to lớn với lịch sử thế giới ).

Người ta tôn làm Đức Thánh Trần. Còn trong tín ngưỡng dân gian, người ta thường tôn danh ông là Đức Thánh Ông Trần Triều hay ngắn gọn hơn là Đức Ông Trần Triều.Nếu một người có căn số hầu các giá nhà Trần thì giá Đức Ông có thể là giá mở khăn đầu tiên. Tuy nhiên cũng khá hiếm khi có người hầu về Đức Ông mà chỉ khi đại sự cần thỉnh ông về để trừ tà sát quỷ thì mới hầu ông (vì theo quan niệm cổ: “bóng” Đức Ông khá nặng nên không phải đồng cựu đã đội lệnh nhà Trần thì không thể hầu được) hoặc khi đại tiệc mở phủ thường thỉnh ông về chứng đàn Trần Triều (gồm voi, ngựa, thuyền rồng, tráp áo…) hoặc đồng mới tạ phủ và làm lễ đội lệnh nhà Trần. Khi ngự đồng, ông mặc áo đỏ, thêu rồng và hổ phù (có một số nơi hầu ông, chân đi hia, đầu đội mũ trụ), có thể mặc áo choàng bên ngoài, một số vùng hầu ông thường múa thanh đao. Khi về đồng, Đức Thánh Ông thường làm phép để sát quỷ trừ tinh (điều này chỉ có đúng đồng nhà Trần, có đội lệnh mới có thể làm như thế khi hầu ông) đó là: “lên đai thượng”nghĩa là cầm dải lụa đỏ thắt cổ (khi thắt vào cổ, mặt người hầu thường bạnh ra, đỏ,thì thế mới là thật đồng), lúc này người hầu dâng phải khéo léo móc một ngón tay vào dây thắt cổ để cho dãn bớt (vì dù là thật đồng nhưng Đức Thánh Ông chỉ giáng li giáng lai trên đầu đồng);“rạch lưỡi” nghĩa là dùng con dao hay vật nhọn rạch vào lưỡi người hầu để lấy máu (gọi là Đức Ông ban “dấu mặn”) sau đó phun ra tờ giấy phù hoặc rượu, có người xin giấy phù mang về để hộ thân trừ tà, có người bị tà mà quấy nhiễu lại xin rượu có máu, uống để trục tà; ngoài ra còn có uống dầu sôi, nung nóng bàn cuốc rồi đặt chân lên… Tuy nhiên, hiện nay, các lối hầu cổ như vậy đã ít dần, chỉ còn một số người khi hầu Đức Đại Vương Trần Triều là có thể làm như vậy. Làm như thế người ta gọi là làm phép nhà Trần ra uy, vậy nên văn hát giá Đức Thánh Ông Trần Triều có một số đoạn như:

“Thánh Ông có lệnh truyền ra
Các quan thủy bộ cùng là chư dinh
Hô vang trấn động Nam thành
Đánh Đông dẹp Bắc tung hoành mọi nơi”

Hay khi Đức Ông về ra uy tróc tà (lên đai thượng hay rạch lưỡi ban dấu mặn) người ta cũng hát rằng:

“Phép ông đôi má thu phình
Lưỡi thời lấy huyết quyết linh thần phù”

Do quan niệm dân gian nên khi có tà mà dịch bệnh người ta thường cầu đảo Đức Thánh Trần để sát quỷ trừ tà, nhất là phụ nữ bị bệnh về sản khoa (theo dân gian, phụ nữ bị bệnh sản khoa là do quỷ Phạm Nhan gây ra, mà Đức Ông lại là người đã chém đầu quỷ Phạm Nhan); ngoài ra có câu chuyện còn kể rằng nếu có giặc dã, vào đền xin Đức Ông mà thấy tráp kiếm có tiếng kêu bên trong thì nhất định là thắng lớn.
Đền thờ Đức Thánh Ông Trần Triều cùng với gia đình và tướng lĩnh của ông được nhân dân lập lên ở khắp nơi nhưng uy nghiêm và nổi tiếng nhất phải kể đến: Đền Kiếp Bạc ở Chí Linh, Hải Dương, được lập lên trên nền dấu tích ở nơi mà năm xưa ngài cho đóng quân doanh Vạn Kiếp, sau đó phải kể đến hai ngôi đền ở đất Nam Định, nguyên quán của ngài, đó là Đền Cố Trạch (Đền Trần) và Đền Bảo Lộc, đều thuộc Thiên Trường, Nam Định. Ngoài ra còn có Đền Phú Xá ở Hải Phòng (tương truyền là nơi đóng quân nghỉ chân năm xưa)

Ngày tiệc Đức Thánh Trần thường được tôn là ngày “giỗ Cha” của toàn thể dân tộc Việt Nam vào ngày 20/8 âm lịch (là ngày Đức Ông hóa) và được tổ chức long trọng nhất tại đến Kiếp Bạc. Ngoài ra vào giữa đêm ngày 14/1 âm lịch còn có tổ chức ban ấn của Đức Thánh Trần tại Đền Bảo Lộc.

__________________

ĐỨC ÔNG ĐỆ TAM

Là Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, con Tiết Chế Quốc Công Trần Quốc Tuấn, cũng là một vị tướng tài ba ở thời nhà Trần.
Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng Đệ Tam Vương Tử. Đức Thánh Ông Hưng Đạo Đại Vương có tất cả bốn người con trai gọi là: Tứ Vị Vương Tử, nhưng chỉ có Đức Ông Đệ Tam là thường được hầu trong hàng Trần Triều. Ông vốn là con trai thứ ba của Hưng Đạo Vương, sau này, trong khi hỏi ý kiến về di nguyện của An Sinh Vương Trần Liễu trước đây, Đức Đại Vương có hiểu lầm ẩn ý trong câu trả lời của ông nên nghĩ rằng ông muốn tạo nghịch phản nên sai ông ra trấn thủ đất Vân Đồn, Quảng Ninh (thực chất là đày ông ra đó) và không cho ông phủ phục trước di quan khi Hưng Đạo Đại Vương mất. Tuy bị hàm oan, phải chịu đày ải ra cửa ải nhưng ông vẫn một lòng vì nước vì dân, có công lớn trong công cuộc trấn giũ cửa ải ở đất Quảng Ninh.

Vì công lao của ông trong việc trấn ải ở cửa biển nước ta nên người đời suy tôn ông là: Đức Đệ Tam Phó Súy Đông Hải Đại Vương Trần Quốc Tảng, còn trong tín ngướng hầu đồng người ta thường thỉnh ông là : Đức Ông Đệ Tam hay Đệ Tam Đức Thánh Ông Cửa Suốt Cửa Đông.

Thông thường những người hầu Hội Đồng Trần Triều thường hay hầu về Đức Ông Đệ Tam. Khi về ngự đồng, ông thường mặc trang phục màu đỏ giống với Đức Thánh Trần, hoặc cũng có một số nơi người ta cũng mặc áo trắng (có điều này sỡ dĩ là vì sự giao thoa giữ tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần và Đạo Mẫu Tứ Phủ nên coi hàng Đệ Tam mặc áo trắng, hơn nữa ông cũng trấn giữ nơi cửa biển (thoải) là Cửa Đông Cửa Suốt) và cũng làm các ấn phép giống với Đức Đại Vương như: lên đai thượng, rạch lưỡi ban dấu mặn, thư phù bắt quyết…

Trong văn Đức Ông Đệ Tam cũng có đoạn hát kể về điển tích của ông như:
“Thời Trần Thị mở mang Nam Hải
Đức Đệ Tam dòng dõi kim chi”
Đền thờ Đức Ông Đệ Tam quy mô và bề thế nhất là Đền Cửa Ông ở ngoài Quảng Ninh. Ngày đại tiệc của Đức Ông Đệ Tam là ngày 3/2 âm lịch

__________________

ĐỆ NHẤT VƯƠNG CÔ
Đệ Nhất Vương Cô (Vương Bà) Quyên Thanh Công Chúa Trần Thị Trinh. Cô là con gái lớn của Hưng Đạo Đại Vương. Cô lấy vua Trần Nhân Tông, trở thành Vương Phi Nhất Phẩm đương triều, danh tiếng bậc nhất nên danh hiệu là: Đệ Nhất Nữ Thần Nương Tiến Cung, sau này cô được vua Trần Nhân Tông gia phong là: Đệ Nhất Khâm Từ Hoàng Hậu Quyên Thanh. Sau này cô đi tu, theo vua Trần Nhân Tông lên Yên Tử, và cô đã cùng với các cung phi khác thác hóa ở chùa Giải Oan, Yên Tử, Quảng Ninh.

Rất hiếm khi có người hầu về Đệ Nhất Vương Cô mà chỉ thỉnh cô tráng mạn (vì cô theo dòng tu ở ẩn trong núi nên hiếm khi ra ngự đồng, thế nên chỉ có một số ít các thanh đồng theo chân tu mới hầu cô). Khi ngự đồng cô mặc áo đỏ (có thể thêu rồng phượng hoặc áo gấm), đầu đội khăn đóng (khăn vành dây), dùng von đỏ thắt dải buộc lên.

Cô thường được thờ cùng với Đức Đại Vương ở trong các đền phủ. Tuy nhiên ở Đền Kiếp Bạc và Đền Bảo Lộc thì cô lại ngồi cận bên tả Đức Vương Phi (hay Vương Phu Nhân của Hưng Đạo Vương). Ngày tiệc của Vương Cô Nhất là 12/1 âm lịch

__________________

ĐỆ NHỊ VƯƠNG CÔ

Đệ Nhị Vương Cô (Vương Bà) Đại Hoàng Công Chúa Trần Thị Tĩnh. Cô là con gái thứ của Hưng Đạo Đại Vương. Còn tương truyền rằng Vương Phu Nhân nằm mộng thấy vì sao sa xuống rồi lại thấy rồng ấp bên mình thì mang thai cô vào năm Bính Thìn. Cô tuy là con gái ruột của Đức Đại Vương và Vương Phu Nhân nhưng sau này lại phải đổi ra thành nghĩa nữ lấy hiệu Anh Nguyên (Thủy Tiên) Quận Chúa. Nên danh hiệu của cô là: Đệ Nhị Nữ Đại Hoàng Anh Nguyên Quận Chúa. Sở dĩ vậy là có lí do: Hưng Đạo Vương rất quý mến Phạm Ngũ Lão, muốn gả cô cho Đức Ông họ Phạm, nhưng quy định của tôn thất nhà Trần là phải lấy người trong hoàng tộc, để bảo vệ ngai vàng.

Vậy nên Đức Ông phải cho cô ra làm con nuôi, để khỏi phạm vào hoàng luật. Cô mang danh nghĩa tử của Hưng Đạo Vương, kết duyên cùng Phạm Ngũ Lão, trở thành Phạm Điện Súy Phu Nhân. Cũng có khi, cô còn thay quyền Hưng Đạo Vương, chấp chính ba quân, cô cũng không hề ngại gian nan, sát cánh cùng cha nơi chiến trường trong sự nghiệp vệ quốc thời Trần. Sử nhà Nguyên xưa cũng chép rằng: Công Chúa (tức chỉ Vương Cô) dáng thanh như ngọc da trắng như ngà, dáng đi khoan thai giọng nói dịu dàng nhưng khi ra trận thi uy dũng, nam nhi ít người sánh bằng.

Khi hầu về hàng Hội Đồng Trần Triều, giá Đệ Nhị Vương Cô hay được hầu nhất (vì cũng theo một số quan niệm, thì Đệ Nhị Vương Cô thường hay theo về bên Tứ Phủ, vậy nên những người hầu Trần Triều cùng với Tứ Phủ thường hay mở khăn giá Đệ Nhị Vương Cô). Khi ngự đồng cô thường mặc trang phục giống như Vương Cô Nhất nhưng không phải màu đỏ mà là màu vàng, tuy nhiên cũng do ảnh hưởng của Tứ Phủ, một số nơi hầu Vương Cô Đôi lại mặc màu xanh, và hiện giờ thì đa phần người ta thường dùng màu xanh, khi ngự, cô dắt một chiếc kiếm và cờ lệnh sau lưng, còn tay thì cũng cầm một kiếm một cờ lệnh. Trong hàng Trần Triều, cô là giá thứ 3 có làm phép để trừ tinh tróc tà, khi hầu cô người ta thường làm một số phép như: xiên lình (nghĩa là lấy chiếc ngạnh nhọn bằng sắt trắng, xiên từ má này sang má kia, bên trong miệng phải có ngậm quả cau. Tuy nhiên hiện giờ cách xiên lình này không mấy người làm được mà nếu có người nào hầu về cô làm phép xiên lình thì thường chỉ dùng hai chiếc ngạnh, đêm vào hai bên má rồi xoắn lại cho nó chọc sâu vào má chứ không xiên từ bên này sang bên kia như lối cổ), ngoài ra còn có phép tiến lửa tróc tà (nghĩa là người hầu về cô đốt một bó hương rồi cho vào mồm ngậm tắt, vậy nên còn gọi là ăn lửa).

Cô cũng thường được thờ với Đức Đại Vương trong các đền phủ. Nhưng riêng ở Đền Kiếp Bạc và Đền Bảo Lộc, cô lại ngồi cận bên hữu của Đức Vương Phu Nhân. Ngày tiệc của Vương Cô Đôi là ngày 5/5 âm lịch

__________________

CÔ BÉ CỬA SUỐT

Tiên Cô Bé trấn giữ Cửa Suốt. Cô Bé Cửa Suốt là cháu gái của Hưng Đạo Vương, cùng với Đức Ông Đệ Tam trấn ải, quyền cô thống lĩnh ba quân, thủy binh trấn giữ ở ngoài Cửa Suốt vậy nên được gọi là Cô Bé Cửa Suốt . “Cô Bé” ở đây do thứ bậc của cô trong Hội Đồng Trần Triều, chứ cô không giống với các Cô Bé trong hàng Tiên Cô của Tứ Phủ). Còn có sử ghi lại cô vốn là Tĩnh Huệ Công Chúa, còn gái của Đức Ông Phạm Ngũ Lão và Đệ Nhị Vương Cô Đại Hoàng Công Chúa, nên còn gọi là Phạm Điện Súy Công Nữ Tử, sau này lại lấy vua Trần Anh Tông vậy nên có danh hiệu là Anh Tông Hoàng Đế Thứ Phi.
Giá Cô Bé Cửa Suốt cũng thường hay được hầu, khi ngự về đồng cô cũng mặc trang phục giống với Nhị Vị Vương Cô nhưng là màu trắng (cũng là do sự ảnh hưởng của Tứ Phủ), thông thường cô hay cầm mái chèo và lá cờ lệnh, chèo thuyền ra trấn giữ Cửa Suốt, nhưng khi đánh trận, về ngự đồng cô cũng múa kiếm và cờ lệnh
Cô Bé Cửa Suốt được thờ trong Đền Cửa Ông cùng với Đức Ông Đệ Tam, nhưng cô cũng có ngôi đền nhỏ riêng ở gần Đền Cửa Ông và được gọi tên là: Đền Cô Bé Cửa Suốt hay Đền Cặp Tiên. Ngày tiệc của cô là ngày 2/3 âm lịch

__________________

CẬU BÉ CỬA ĐÔNG

Thánh Cậu Bé trấn giữ Cửa Đông. Cậu Bé Cửa Suốt là cháu trai của Hưng Đạo Vương, ngang bằng với Cô Bé Cửa Suốt, cậu là Cậu Bé Quận bản đền trấn giữ trong Đền Cửa Ông, được Đức Ông Đệ Tam trao quyền trấn giữ Cửa Đông (cách gọi “Cậu Bé” cũng là do thứ bậc trong nội tộc Trần Triều chứ không giống với các Cậu Bé trong hàng Thánh Cậu của Tứ Phủ). Cậu Bé còn được phong là Hiển Thánh Vương Tôn Chủ Bộ Tướng.

Giá Cậu Bé Cửa Suốt cũng ít khi ngự về, khi ngự đồng, cậu mặc áo vàng, đầu vấn khăn ngang và cầm đôi hèo hoa.
Cậu Bé Cửa Suốt được thờ làm Cậu Quận bản đền, coi sóc ra vào Đền Cửa Ông

__________________

QUAN ĐỆ NHẤT THƯỢNG THIÊN

Y Ngài vận y phục mầu đỏ, được thờ ở chính giữa Ngũ vị tôn quan, ngài là con vua Ngọc Đế, cai quản miền thiên phủ. Quan đệ nhất không giáng trần, là vị thiên thần trên trời nên mang tính chất hình tượng.

Quan Đệ Nhát cũng ít khi về ngự đồng, chỉ những dịp có đại sự như: Mở phủ, Tạ phủ, Hầu xông đền, xông điện thì Ngài mới về ngự đồng. Khi ngự đồng, ông mặc áo đỏ thêu rồng, hổ phù, làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ điệp, trạng mã. Thông thường khi khai đàn mở phủ, người ta phải thỉnh Quan Đệ Nhất về để pháp sư tuyên sớ điệp. Sau đó, Quan phê sớ, phú húy, công cứ rồi tuyên bố khai đàn, mở phủ, hoặc Quan lớn ngài còn “ Điểm dấu thánh” ( tức là: lấy nén hương đã đốt, chấm một dấu nhỏ vào áo công đồng và khăn phủ diện của đồng tân, coi như khăn áo đã được quan lớn đánh dấu là khăn áo của con cái Tứ Phủ, khăn áo đã được “ điểm dấu thánh” là của riêng thanh đồng đó, không ai được dùng chung cũng như hạn chế việc thay đổi. Cũng có khi Quan Đệ Nhất chỉ về biên sớ. Sau đó, truyền cho các Quan sau về mở phủ, nhưng cũng có khi chính Ngài về khai giếng, mở hồ Thiên Phủ ( tức mở phủ Thượng Thiên) gồm: Bóc trứng, đập chĩnh, kéo cầu… khai quang mã đàn, hình nhân bản mệnh ( hồng) và thiên phủ (đỏ)

Do không giáng trần nên Quan lớn Đệ Nhất không có đền (trước đây) và ngày tiệc chính, nhưng ở trong bất cứ đền nào cũng có tượng ông, ngồi giữa trong năm tòa Ông Lớn, mặc áo bào đỏ, đội mũ cánh chuồn. Hiện giờ, đền thờ Quan Lớn Đệ Nhất mới được xây dựng và hoàn thành, thuộc quần thể di tích đền Đức Vua Cha Bát Hải Đồng Bằng, cách đền Đồng Bằng khoảng 500m, thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

__________________

QUAN ĐỆ NHỊ THƯỢNG NGÀN
Quan Đệ Nhị Thượng Ngàn hay còn gọi là Quan Đệ Nhị Giám Sát (có một số người gọi là Quan Thanh Tra Giám Sát). Quan lớn vốn là con trai thứ hai của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông theo lệnh Vua Cha, hạ phàm đầu thai vào Hoàng Cung (có sách nói là ông hạ phàm ngày mồng ba tháng mười một năm Ất Dậu vào một nhà quý tộc) ngày mồng mười tháng mười một năm Bính Dần, ông là người văn võ toàn tài, thông minh chính trực, được khắp muôn nơi ngưỡng mộ, các vương tôn công tử đều thuận tình đến làm học trò. Đến khi về chầu Thiên Đình, ông lại được giao quyền giám sát quản cai Sơn Lâm, Thượng Ngàn, ông giáng thế ban phúc cho dân, khi dân chúng bị hạn hán, cầu đảo ông thì lập tức có mưa thuận gió hòa.

Quan Đệ Nhị là một trong ba vị quan lớn rất hay ngự về đồng (kể cả trong những ngày tiệc vui). Khi ngự đồng, ông mặc áo xanh ( xanh la hay xanh lá cây) thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ và múa kiếm (cách hầu Quan Giám Sát thì có nơi múa đôi kiếm, có nơi múa một kiếm, có nơi lại múa một kiếm một cờ). Cũng như Quan Đệ Nhất, khi khai đàn mở phủ, người ta thỉnh Quan Đệ Nhị về chứng đàn Nhạc Phủ (Thượng Ngàn: đàn mã đều màu xanh). Ngoài ra vào những dịp đại lễ (như mở phủ khai đàn, tạ phủ…), trước ngày làm lễ, người ta thường thỉnh Quan Đệ Nhị về thanh tra giám sát đàn mã đền phủ.

Quan Giám Sát được thờ ở hai nơi chính là: Đền Quan Giám ở trên huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn (là nơi quan trấn giữ miền Sơn Lâm) và Đền Quan ở Phố Cát, Thanh Hóa (là nơi quan giáng hạ dạo chơi) và ngày tiệc chính của ông là ngày 10/11 âm lịch

__________________

QUAN ĐỆ TAM THOẢI PHỦ

Đền Lảnh Giang (nhân dân thường gọi là Đền Lảnh) nằm trong địa phận thôn Yên Lạc, xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, Hà Nam. Theo Thần Phả, Đền này thờ Tam vị danh thần họ Phạm đời Hùng Vương thứ 18, Tiên Dung công chúa và Chử Đồng Tử.

Căn cứ vào thần tích “Hùng triều nhất vị thuỷ thần xuất thế sự tích” (sự tích ra đời một vị thuỷ thần triều vua Hùng(() Thần tích này do Bát phẩm thư lại Nguyễn Hiền, tuân theo bản cũ triều trước, chép lại vào niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736). Thần tích đang được lưu giữ tại Đền Lảnh.) cùng các sắc phong, câu đối, cũng như truyền thuyết địa phương thì lịch sử ba vị tướng họ Phạm thời Hùng Vương được thờ ở Đền Lảnh Giang như sau:
Ngày xưa, ở trang An Cố, huyện Thuỵ Anh, phủ Thái Ninh, trấn Sơn Nam có vợ chồng ông Phạm Túc ăn ở phúc đức, chỉ hiềm một nỗi ông bà tuổi đã cao mà vẫn chưa sinh được một mụn con nối dõi.

Một đêm trăng thanh gió mát, vợ ông (bà Trần Thị Ngoạn) đang dạo chơi bỗng gặp một người con gái nhà nghèo, cha mẹ mất sớm, không có anh em thân thích, đi tha phương cầu thực. Động lòng trắc ẩn, bà Ngoạn liền đón cô về làm con và đặt tên là Quý. Ông bà coi nàng Quý như con ruột của mình. Vài năm sau, trong lúc gia đình đang vui vầy, đột nhiên ông Túc mắc bệnh rồi qua đời. Hai mẹ con đã tìm một nơi đất tốt để an táng cho ông.

Sau ba năm để tang cha, một hôm nàng Quý ra bờ sông tắm gội, ngâm mình dưới nước, bỗng mặt nước nổi sóng, từ phía xa một con thuồng luồng khổng lồ bơi tới quấn lấy nàng, khiến nàng kinh hoàng ngất lịm. Lúc tỉnh dậy thì thấy mình nằm bên bờ sông và thuồng luồng đã bỏ đi. Từ hôm đó nàng thấy trong lòng chuyển động và mang thai. Không chịu được những lời gièm pha khinh thị, nàng đành phải trốn khỏi làng đến xin ngụ cư ở Trang Hoa Giám (nay thuộc thôn Yên Lạc). Rồi đến ngày mùng 10 tháng Giêng năm Tân Tỵ, nàng Quý chuyển dạ, sinh ra một cái bọc. Cho là điểm chẳng lành, nàng liền đem chiếc bọc đó quẳng xuống sông. Chiếc bọc trôi theo dòng nước tới trang Đào Động (xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình), mắc phải lưới của ông Nguyễn Minh. Sau nhiều lần gỡ bỏ, nhưng bọc vẫn cứ mắc vào lưới. Ông Minh thấy lạ bèn khấn: “Nếu bọc này quả là linh thiêng thì cho tôi lấy dao rạch thử xem sao” Khấn xong ông Minh rạch ra, bỗng thấy ba con rắn từ trong bọc trườn xuống sông. Con thứ nhất theo hướng về cửa sông Đào Động, con thứ hai về Thanh Do, con thứ ba về trang Hoa Giám – nơi nàng Quý đang sinh sống. Nhân dân các trang ấp trông thấy đều sợ hãi, cùng nhau ra bờ sông tế tụng, xin được lập sinh từ để thờ.
Lạ thay, vào một đêm trăng sáng, trời bỗng nổi cơn giông, ngoài cửa sông sấm sét nổi lên dữ dội. Đến gần sáng, gió mưa ngớt dần, mọi người đều thấy dưới sông có tiếng người ngâm vịnh:

Sinh là tướng, hóa là thần

Tiếng thơm còn ở trong dân muôi đời

Khi nào giặc dã khắp nơi

Bọn ta mới trở thành người thế gian(1)

(1)Tương truyền ba vị tướng thời Hùng là con của Bát Hải Long Vương và Nàng Quý. Nàng Quý là con nuôi của vợ chồng ông Phạm Túc. Do vậy về sau nhân dân ghép họ Phạm cho các ông.).

Bấy giờ Thục Phán – thuộc dòng dõi tôn thất vua Hùng, thấy Duệ Vương tuổi đã cao mà không có con trai, nên có ý định cướp ngôi. Thục Phán cầu viện binh phương Bắc, chia quân làm 5 đường thuỷ bộ cùng một lúc đánh vào kinh đô. Duệ Vương cho gọi tướng sĩ lập đàn cầu đảo giữa trời đất. Đêm ấy nhà vua chiêm bao thấy có người sứ giả mặc áo xanh từ trên trời bước xuống sân rồng, truyền rằng: “Nhà vua nên triệu ba vị thuỷ thần sinh ở đạo Sơn Nam, hiện còn là hình con rắn thì tất sẽ dẹp xong được giặc”. Tỉnh dậy Duệ Vương liền cho sứ giả theo đường chỉ dẫn trong giấc mộng tìm về đạo Sơn Nam. Sứ giả vừa đến trang Đào Động (nay thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình), bỗng nhiên trời đổ mưa to, sấm sét nổi lên dữ dội ở cửa sông. Một người mặt rồng mình cá chép, cao tám thước đứng trước sứ giả xưng tên là Phạm Vĩnh, xin được đi dẹp giặc. Sau đó, ông Phạm Vĩnh gọi hai em đến bái yết thân mẫu, rồi cùng nhau đi yết kiến Duệ Vương. Vua Hùng liền phong cho ông là Trấn Tây, giữ các vùng Sơn Nam, ái Châu, Hoan Châu. Hai em và các tướng hợp lại, dưới sự chỉ huy của ông, 5 đạo quân Thục đều bị tiêu diệt.
Nghe tin thắng trận, Duệ Vương liền truyền lệnh giết trâu, mổ bò khao thưởng quân sĩ. Vì có công lớn nên nhà vua lại phong cho ông là “Nhạc Phủ Ngư Thượng Đẳng Thần” nhưng ông không nhận, chỉ xin cho dân Đào Động hàng năm không phải chịu sưu dịch. Được vua Hùng đồng ý, ông Phạm Vĩnh cùng hai em về quê hương bái yết thân mẫu và khao thưởng gia thần, dân chúng.

Thấy ở bên sông có khu đất tốt, ông Phạm Vĩnh cho lập đồn dinh cư trú, ban cho dân 10 hốt vàng để mua ruộng đất, khuyến khích nông trang, khuyên mọi người làm việc thiện lương. Nhờ công đức của ông mà nhân dân khắp vùng được sống yên vui.
Ngày 25 tháng 8 năm Bính Dần, trong lúc ông đang ngự tại cung thất của mình, bỗng dưng giữa ban ngày trời đất tối sầm, mưa gió ầm ào đổ xuống. Khi trời quang mây tạnh, dân làng không nhìn thấy ông đâu nữa. Cho là điều kỳ lạ, nhân dân trang Đào Động làm biểu tâu với triều đình.

Được tin ông Phạm Vĩnh về trời, nhà vua liền gia phong cho ông là “Trấn Tây An Tam Kỳ Linh Ưng Thái Thượng Đẳng Thần”, đồng thời đặt lệ quốc lễ, ban sắc chỉ cùng 400 quan tiền cho dân Đào Động rước thần hiệu, tu sửa đền miếu để phụng thờ. Các triều đại sau đó cũng có sắc phong cho ông (hiện trong đền còn giữ 12 sắc phong. Sắc sớm nhất là đời Lê Cảnh Hưng, sắc muộn nhất vào triều Nguyễn, niên hiệu Duy Tân thứ 7, ngày 18 tháng 10 có chép: “Sắc cho xã An Lạc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam phụng thờ Trấn An Tây Nam Tam Kỳ Linh ứng triều Hùng thiêng liêng rõ rệt, trước đây chưa có dự phong. Gặp nay trẫm vâng chịu mệnh lớn, nghĩ đến công thần biểu dương phong cho vị thần, phò giúp nền nếp quốc gia, cho phép y theo lệ cũ kính thờ”.

Hàng năm tại Đền Lảnh Giang, nhân dân địa phương tổ chức 2 kỳ lễ hội chính vào các ngày từ 18 đến 25 tháng 6 và tháng 8 âm lịch. Theo tục lệ địa phương thì kỳ lễ hội tháng 6 là để dành cho các khách thập phương, còn kỳ lễ hội tháng 8 chủ yếu dành cho các khách quanh vùng. Những ngày này thường gặp nước sông Hồng dâng cao nhưng lòng dân vẫn hướng về ngày lễ hội. Có nhiều năm nước ngập nhưng các thiện nam tín nữ cùng nhân dân bản địa vẫn bơi thuyền ra đền dâng lễ và thực hiện đầy đủ các nghi thức để tỏ lòng tôn kính tam vị danh thần họ Phạm, Tiên Dung và Chử Đồng Tử.
Cụ Bùi Bằng Đoàn(() Cụ Bùi Bằng Đoàn (1886 – 1953) là người xã Liên Bạt, huyện Sơn Lăng tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây). Cụ đỗ Cử nhân năm Thành Thái thứ 18 (1906), làm Thượng thư Bộ Hình. Sau Cách mạng tháng tám 1945, cụ được làm Trưởng ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Bài thơ này cụ viết vào tháng 2/1907.) khi viết về công lao đánh giặc của ba vị tướng họ Phạm thời Hùng Vương thờ tại Đền Lảnh Giang trong tập sách “Giang Sơn cổ tích đề vịnh”.

Có bài thơ như sau:

“Hùng gia quý thế tam huynh đệ

Phạm tộc giang hương phả tượng truyền

Phá tặc an dân nhân dĩ viễn

Anh thanh thiên cổ nguyệt cao huyền”.

Dịch là:

Anh em ba vị cuối triều Hùng
Họ Phạm quê nhà xóm bãi sông
Đánh giặc cứu dân người đã khuất
Còn nêu sự nghiệp sáng trăng trong.

Trong báo cáo ngày 16/5/1996, cơ quan Bảo tàng lịch sử tỉnh Nam Hà (cũ) có nhận xét: Đền Lảnh Giang là di tích thờ ba vị tướng họ Phạm thời Hùng Duệ Vương có công lao đánh giặc Thục, bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc. Khi đất nước thanh bình, các ông là những người quan tâm, chăm lo đến sản xuất, làm cho đời sống nhân dân ngày một ấm no hạnh phúc… Đền Lảnh Giang là công trình kiến trúc quy mô, uy linh, bề thế, mang đậm nét nghệ thuật kiến trúc và xây dựng cổ truyền của dân tộc. Tại đây còn giữ được nhiều cổ vật thờ cúng có giá trị cao về nghệ thuật.
Từ những giá trị về lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cổ truyền dân tộc của Đền Lảnh Giang, ngày 5/11/1996, Bộ Văn hóa Thông tin đã cấp bằng công nhận đền Lảnh Giang là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

__________________

QUAN ĐỆ TỨ KHÂM SAI

Quan lớn vốn là con trai thứ tư của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Được vua cha giao quyền trấn giữ đồng bằng địa linh, khâm sai tứ phủ (có người cho rằng, trong các quan thì ông trấn ở trung tâm trời đất), tuy thế nhưng ông thường ngự trên Thiên Đình, biên chép sổ sách sinh tử, chầu chực bên bệ ngọc bàn loan. Cũng như Quan Đệ Nhất, Quan Đệ Tứ không giáng trần.

Trong tòa quan lớn, Ông ít khi giáng đồng nhất, cũng chỉ khi nào có đại lễ mới thỉnh ông về. Khi ngự đồng ông mặc áo vàng thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương khai quang rồi chứng sớ điệp. Thông thường, khi mở phủ khai đàn, người ta mới hay thỉnh Quan Đệ Tứ về để chứng đàn Địa Phủ (gồm long chu, phượng mã, tượng phục, nghê quỳ (voi và nghê hoặc lân)… tất cả đều màu vàng) Vì không giáng trần nên Quan Đệ Tứ cũng không có đền thờ riêng mà chỉ được thờ ở hầu hết các phủ đền trong Năm Tòa Ông Lớn (ông ngồi bên trái Quan Giám Sát hoặc bên phải Quan Tam Phủ). Còn ngày tiệc ông thì có tài liệu nói là 24/4 (nhưng nguồn tài liệu chưa chắc chắn nên chỉ đưa ra để tham khảo).

__________________

QUAN ĐỆ NGŨ TUẦN TRANH

Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh. Hay còn gọi là Ông Lớn Tuần Tranh. Ông là con trai thứ năm của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông cũng giáng dưới thời Hùng Định Vương (Hùng Triều Thập Bát), trong một gia đình ở phủ Ninh Giang (nay là Hải Dương), ông cũng là vị tướng quân tài ba kiêm lĩnh thủy bộ, được giao quyền trấn giữ miền duyên hải sông Tranh. Ông đã lập được nhiều công lao to lớn nên được vua sắc phong tước công hầu.

Tại quê nhà, ông có cảm tình với một người thiếu nữ xinh đẹp, người thiếu nữ ấy vốn là vợ lẽ của quan huyện ở đó, nhưng vốn không hạnh phúc với cảnh “chồng chung”, nàng cũng đáp lại tình cảm của ông mà không hề nói cho ông biết là nàng đã có chồng. Vậy nên Quan Lớn Tuần Tranh vẫn đinh ninh đó là một tình cảm đẹp, hẹn ngày đưa nàng về làm vợ. Đến khi viên quan huyện kia biết chuyện, vu oan cho ông đã quyến rũ vợ mình. Quan Tuần Tranh bỗng nhiên mắc hàm oan, bị đem đày lên chốn Kì Cùng, Lạng Sơn. Tại đây, ông đã lấy tấm lụa bạch tự sát mong rửa oan, chứng tỏ mình vô tội, ông hóa xuống dòng sông Kì Cùng.

Về lại nơi quê nhà, ông hiện thành đôi bạch xà, thử lòng ông bà nông lão trong giấc mộng, sau đó được ông bà nông dân nuôi nấng như thể con mình. Nhưng khi quan phủ biết chuyện ông bà nông lão tậu gà để nuôi đôi bạch xà, liền bắt ông bà phải lên cửa công chịu tội và giết chết đôi rắn kia đi. Hai ông bà thương xót, xin thả rắn xuống dòng sông Tranh, lạ thay khi vừa thả đôi bạch xà xuống thì chỗ đó tạo thành dòng xoáy dữ dội.

Đến thời Thục Phán An Dương Vương, vua tập hợp thuyền bè để chống giặc Triệu Đà ở ngay bến sông Tranh, nhưng tại chỗ dòng xoáy đó, thuyền bè không tài nào qua được mà lại có cơn giông tố nổi lên giữa dòng. Vua bèn mời các vị lão làng đến lập đàn cầu đảo thì lập tức sóng yên bể lặng, hơn nữa, quân sĩ ra trận cũng được thắng to. Ghi nhớ công đức, vua Thục giải oan cho ông và phong là Giảo Long Hầu.

Sau này ông còn hiển thánh linh ứng, có phép nhà trời, cai quản âm binh, ra oai giúp dân sát quỷ trừ tà, dẹp hết những kẻ hại nước hại dân.

Cũng có tích khác lưu truyền ở vùng Ninh Giang nói rằng, Quan Tuần là người công minh chính trực, không dung tha những kẻ gian tà, vậy nên khi ông được lệnh Vua Cha giáng trần làm Quan Lớn Tuần ở bến đò Tranh, những loài thuỷ quái mang oán thú với ông trước kia bèn nghĩ cách vu oan cho ông, chúng biến lên, mang hình dáng của ông để đi quyến rũ và bắt cóc một người cung phi của vua, ông mang nỗi oan đi đày ở Kì Cùng.

Tại đây, một lần nữa ông lại bị nghi oan đã đầu độc quân sĩ, để chứng minh sự trong sạch, ông lấy tấm lụa bạch để tự sát, nhưng nỗi oan làm trời đất rung chuyển, sợi lụa bạch biến kết thành đôi bạch xà, về đến đất Ninh Giang rồi hiển linh và được thờ phụng.

Sau này ông được một viên quan ở Kì Cùng “chiêu tuyết” rồi được vua phong Thượng Đẳng Tối Linh Thần và truyền cho dân lập đền thờ.

Trong hàng Ngũ Vị Tôn Ông, cùng với Quan Lớn Đệ Tam, Quan Lớn Đệ Ngũ cũng là một vị quan lớn danh tiếng hết sức lẫy lừng, được nhân dân xa gần tôn kính phụng thờ. Tuy trong hàng Năm Tòa Ông Lớn, ông được thỉnh cuối cùng nhưng lại hay ngự về đồng nhất (bất cứ ai hầu Tứ Phủ, bất cứ dịp tiệc, đàn lễ nào đều phải thỉnh Quan Tuần Tranh về ngự).

Khi ngự đồng ông mặc áo lam thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ tán đàn rồi múa thanh long đao. Khi có đại lễ khai đàn mở phủ, sau khi các quan lớn đã về khai giếng mở hồ xong xuôi, đến giá Quan Tuần Tranh về ngự, pháp sư sẽ vào tuyên trạng thông hành tiến mã, quan lớn nghe tuyên sớ xong sẽ tiến muối gạo, sau đó Quan Đệ Ngũ tay cầm thanh long đao, miệng hô vang các quan quân Thiên Phủ, Địa Phủ, Thoải Phủ, Nhạc Phủ, cơ đội sẵn sàng, cung nào sở ấy, nghe lệnh quan về tiến đàn Tứ Phủ (long chu, tượng mã…).

Quan Lớn Tuần Tranh cũng được thờ ở rất nhiều nơi nhưng phải kể đến hai nơi nổi tiếng bậc nhất: đầu tiên là Đền Ninh Giang hay Đền Quan Lớn Tuần Tranh lập bên bến sông (bến đò) Tranh (cũ) ở Phủ Ninh Giang, Tranh Xuyên, Đồng Tâm, Hải Dương (là nơi chính quán quê nhà của ông, nơi ông trấn giữ duyên hải sông Tranh, cũng là nơi ông hiển tích) và Đền Kì Cùng lập bên bến sông Kì Cùng, qua cầu Kì Lừa (là nơi ông bị lưu đày).

Ngoài ra, ở ngay chính đất quê nhà của ông cũng có một ngôi miếu thiêng thờ Quan Đệ Ngũ lập ở ngay ngã ba sông Tranh (nơi đây nguyên xưa vốn là nơi đôi ông bạch xà hiển về).Ngày tiệc chính của quan là ngày 25/5 âm lịch (là ngày ông bị lưu đày và dặn dò nhân dân quê ông làm giỗ vào ngày này), ngoài ra vào ngày 14/2, các đền thờ ông cũng mở tiệc đón ngày đản sinh của quan.

__________________

QUAN ĐIỀU THẤT ĐÀO TIÊN

Quan Điều Thất thường không ra ngự đồng vì ông chỉ làm việc cận bên vua cha, nhưng khi hầu về hàng quan lớn, sau khi thỉnh Ngũ Vị Tôn Ông, đều phải thỉnh quan về tráng bóng. Trong số ít trường hợp ông ngự về đồng, ông thường mặc áo đỏ điều thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương và khai quang.
Quan Lớn Điều Thất Đào Tiên. Ông là con trai thứ bảy của Vua Cha Bát Hải Động Đình, luôn luôn kề cận túc trực bên vua cha. Ông là vị văn quan được vua cha giao cho biên sổ, coi giữ kho tàng kinh thư nơi Thủy Cung. Quan lớn luôn cứu giúp người trần gian, hễ ai là người sống hiếu thuận đều được quan biên chép sổ sinh được thọ trường. Ông cũng không giáng trần.
Quan Điều Thất thường không ra ngự đồng vì ông chỉ làm việc cận bên vua cha, nhưng khi hầu về hàng quan lớn, sau khi thỉnh Ngũ Vị Tôn Ông, đều phải thỉnh quan về tráng bóng. Trong số ít trường hợp ông ngự về đồng, hoặc trong một số lễ khai đàn mở phủ tại một số địa phương (Hải Phòng, Hưng Yên), khi quan thầy hầu tạ đàn để kết thúc lễ mở phủ, thường hầu Quan Điều Thất để mở kho hoặc khi về đất Thái Bình, đền Đồng Bằng đều phải thỉnh bóng quan về ngự đồng. Trong số ít trường hợp ông ngự về đồng, ông thường mặc áo đỏ điều thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang và múa cờ.
Tuy không giáng trần, nhưng ông lại linh ứng giúp dân nên được nhân dân lập đền thờ tại tỉnh Thái Bình (gần Đền Đồng Bằng thờ Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình, vì ông luôn kề cận bên vua cha) là Đền Quan Lớn Điều Thất

__________________

QUAN HOÀNG TRIỆU
Hay còn gọi là Ông Hoàng Đôi (thường gọi tắt là Ông Đôi) hay còn gọi là Ông Triệu Tường: là con trai Đức Vua Cha. Ông theo lệnh, giáng sinh lên cõi trần gian, làm con trai thứ hai nhà họ Nguyễn, sau đó ông trở thành danh tướng, có công giúp nhà Lê trong công cuộc “Phù Lê Dẹp Mạc”, ông là người đã đem quân truy đuổi họ Mạc đến tận đất Cao Bằng, rồi ông được vua Lê phong công, giao cho kéo binh đóng ở đất Tống Sơn, Triệu Tường, Thanh Hóa.

Ông Đôi cũng khá ít khi ngự đồng, nếu có ngự về, ông mặc áo như Ông Hoàng Cả (nhưng màu xanh), chỉ có ở Hà Nội là hay thỉnh ông về nhưng lại thỉnh ông như một vị Quan Lớn (gọi là Ông Lớn Triệu Tường), ngự sau giá Quan Điều Thất, ông về tấu hương, khai quang rồi múa cờ lệnh (cờ lệnh đại, vuông, ngũ sắc). Nhưng có nơi hầu ông ở giá Tứ Phủ Thánh Hoàng, trước Ông Hoàng Bơ.

Đền thờ Ông Hoàng Đôi được lập ở nơi mà xưa kia ông đã kéo binh vê đóng ở đó gọi là Đền Triệu Tường (hay còn gọi là Đền Quan Triệu) ở đất Tống Sơn, núi Triệu Tường, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa, ngoài ra ở Hà Nội cũng có một ngôi đền gọi là Đền Quan Triệu (hay tên thường gọi là Đền Hoàng).
Tiệc Ông vào ngày 13/7..

__________________

CHẦU ĐỆ NHẤT THƯỢNG THIÊN

Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên được coi là hoá thân của Mẫu Đệ Nhất. Chầu Bà vốn là Thiên Cung Tiên Nữ, con vua Ngọc Hoàng, giáng hiện trong xứ Thanh giúp dân hộ quốc. Trong hàng Tứ Phủ Chầu Bà, bà là vị ở ngôi cao nhất, cai quản Thượng Thiên, nắm giữ sổ Tam Toà. Khi thanh nhàn bà lại cùng các cô nàng hầu cận vui vẻ dạo chơi, giáng phúc cho dân. Cũng có quan niệm cho rằng, bà còn là Quế Hoa Công Chúa (hay còn gọi là Chầu Quế, khác với Mẫu Đệ Nhị) trên Thiên Cung, xuống Đồi Ngang Phố Cát, kề cận bên Mẫu Liễu Hạnh.

Bà khá ít khi ngự đồng (đây cũng là đặc điểm chung của các vị thánh trên hàng Thượng Thiên), chỉ khi nào có tiệc khai đàn mở phủ, mà người ra trình đồng có toà lễ Tứ Phủ Chầu Bà Sơn Trang thì thường thỉnh bà về chứng toà đàn màu đỏ (gồm hình Chúa ( Chầu), đôi cô hầu cận cầm quạt, mười hai cô nàng, động chúa, thuyền thoi…). Khi ngự đồng thì chầu thường mặc áo màu đỏ thêu phượng (hoặc có thể là áo gấm).
Vì chầu là hoá thân của Mẫu Đệ Nhất nên nơi nào Mẫu ngự thì đều có thể coi là đền chầu, tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng có nơi thờ riêng, lưu rõ dấu tích của chầu nhất là Đền Rồng, Thanh Hoá.
Ngày tiệc của Chầu là 3/3 ( vì chầu được coi là hóa thân của Mẫu Đệ Nhất)

__________________

CHẦU ĐỆ NHỊ THƯỢNG NGÀN

Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn được coi là hóa thân của Mẫu Đệ Nhị. Chầu cũng vốn là Thiên Thai Tiên Nữ, con vua Đế Thích, cai quản sơn lâm thượng ngàn, quyền hành khắp hết 81 cửa ngàn đất Nam Việt. Lại có sự tích cho rằng, bà cũng giáng sinh vào quý tộc Lê gia (có tài liệu ghi lại tên bà là Lê Thị Kiểm) ở vùng Thác Cái Thác Con, Hà Giang, sau này trở thành Bà Chúa Thượng Ngàn. Trong hàng Tứ Phủ Chầu Bà, bà là vị chầu bà có quyền hành tối cao của tòa Sơn Trang (mà đa phần các vị chầu bà đều ở trên sơn trang) nên gần như bà là vị có quyền cao nhất hàng chầu, chỉ sau Chầu Đệ Nhất.

Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn là vị chầu hay giáng đồng nhất trong hàng chầu (từ đồng tân đến đồng cựu ai cũng thỉnh chầu về ngự, để ban tài tiếp lộc sơn lâm sơn trang). Chầu ngự về đồng thường mặc áo màu xanh (xanh la hay xanh lá cây), cầm quạt khai cuông rồi múa mồi. Chầu Đệ Nhị thường hay ngự về trong các đàn mở phủ để chứng đàn Sơn Trang (kể cả với người không mở đủ bốn tòa sơn trang mà chỉ mở một tòa xanh). Ngoài ra khi đồng tân lính mới vào hầu cũng thường thỉnh chầu về để sang khăn cho đồng mới.

Và đặc biệt, khi Chầu Đệ Nhị ngự đồng vào dịp lễ tiệc (đặc biệt là lễ Thượng Nguyên) trong năm, thì thường có nghi thức gọi là “trình giầu”. Khi chầu về ngự đồng, những con nhang đệ tử nào có căn số, đã lập bát hương bản mệnh, sẽ ngồi giữa chiếu ngự, phủ khăn đỏ và trên đầu đội mâm giầu trình (gồm cau, lá trầu, vỏ thuốc, thuốc lào, thuốc lá…), khi đó người ngồi đội giầu phải đặt lên mâm giầu trình 13.000 (thông thường là thế, có nơi thì là 15.000) dâng lên Chúa Sơn Trang và 12 cô tiên nàng hầu cận là những vị chứng mâm giầu của mình, lúc đó chầu sẽ cầm bó mồi (hoặc hương đã đốt cháy) khai cuông, chứng mâm giầu rồi xin tiền đài, nếu được nhất âm nhất dương (có một đồng tiền xấp, một đồng tiền ngửa) nghĩa là Phật Thánh đã chứng cho người ngồi đội giầu đó, rồi người đội giầu lễ tạ và đi ra để cho người khác vào tiếp tục.

Cũng như Chầu Đệ Nhất, Chầu Đệ Nhị được thờ phụng ở bất cứ nơi nào có rừng núi có Mẫu Đệ Nhị ngự. Nhưng khi thỉnh chầu, người ta thường hay nghĩ tới Đền Đông Cuông là nơi in dấu rõ nhất ở tỉnh Yên Bái.

Tiệc của Chầu: ngày mão đầu của tháng 2 ( tiệc mẫu đệ nhị)

__________________

CHẦU ĐỆ TAM THOẢI PHỦ

Chầu Đệ Tam Thoải Cung được coi là hóa thân của Mẫu Đệ Tam. Chầu vốn là Thủy Tinh Tiên Nữ, con vua Thủy Tề, ở chốn Long Cung, chầu thường được tôn xưng là Lân Nữ Công Chúa, quyền quản cai coi giữ các tiên nữ chốn Thủy Phủ. Lại có sự tích cho rằng bà là con gái của Lạc Long Quân, danh hiệu Thủy Tinh Động Đình Ngọc Nữ Tam Giang Công Chúa (nhưng truyền thuyết này không được lưu truyền rộng rãi mà thực tế thì người ta vẫn công nhận sự tích Chầu Đệ Tam là con Vua Long Vương Bát Hải Động Đình hơn). Trong hàng Tứ Phủ Chầu Bà, bà là vị chầu có sự tích buồn nhất.
Chầu Đệ Tam là vị chầu ít khi giáng đồng nhất (người ta thường kiêng hầu chầu đặc biệt là trong các dịp tiệc mừng vui hoặc lễ Thượng Nguyên hoặc đại đàn mở phủ). Nếu trong đàn mở phủ mà dâng bốn tòa sơn trang thì người ta cũng không hay thỉnh chầu về chứng mà thường thỉnh Chúa Thác Bờ hoặc Chầu Bé Thoải Bản Đền thay cho giá chầu để chứng tòa màu trắng. Chầu chỉ ngự về khi người hầu bắc ghế hầu Tứ Phủ ở các ngôi đền thờ các vị thánh hàng Thoải hoặc tại chính đền thờ Mẫu Thoải. Chầu ngự về thường mặc áo màu trắng, cầm quạt khai cuông. Người ta ít khi hầu chầu trong những dịp tiệc vui vì khi chầu ngự thì khá u buồn, có điều đó cũng bởi sự tích của chầu: Chầu Đệ Tam vốn là con gái Vua Thủy Tề, ở chốn Long Giai. Chầu kết duyên cùng Kính Xuyên (là con Vua Đất). Khi Kính Xuyên đi vắng, chầu ở nhà khâu vá, chẳng may kim đâm vào tay chảy máu, chầu lấy tấm vải lụa trắng để thấm máu. Thảo Mai, tiểu thiếp của Kinh Xuyên, vốn đã sinh lòng đố kị từ lâu, nhân cơ hội đó giấu tấm lụa đi, đến khi Kính Xuyên về, Thảo Mai lấy ra rồi vu oan cho bà ở nhà đã cắt máu thề nguyền để tư thông cùng kẻ khác. Kính Xuyên không nghe lời thanh minh, ghen tuông mù quáng, một mực bắt đóng cũi bỏ bà lên rừng cho thú dữ ăn thịt. Ở nơi rừng núi, bà được muôn loài quý mến, dâng hoa quả nước uống cho bà. Đến một ngày kia thì bà gặp được Liễu Nghị, vốn là thư sinh, nhờ tập ấm cha mẹ để lại nên đèn sách chuyên cần. Hôm đó trên đường đi thi thì chẳng may bị lạc vào nơi bà bị đày ải. Thấy bà vậy, Liễu Nghị đến hỏi han, sau khi biết rõ sự tình, Liễu Nghị nguyện kết duyên cùng bà. Nhưng bà từ chối, sau đó lấy máu, viết thư nhờ Liễu Nghị mang về đến chốn Long Cung để vua cha thấu hêt sự tình rồi sẽ định liệu sau. Theo lời bà, Liễu Nghị ra đến sông Ngân Hán, là mái Long Giai ngoài biển Đông, thấy có cây ngô đồng, Liễu Nghị rút cây kim thoa, gõ vào cây ba lần. Tức thì gió giật mưa sa, biển động ầm ầm, giữa dòng thấy hiện lên đôi bạch xà, Liễu Nghị bèn trình bày mọi việc, đôi bạch xà vâng lệnh đưa Liễu Nghị xuống Thủy Cung. Tại đây, Liễu Nghị trao cho Vua Thủy Tề bức thư và kể hết mọi chuyện. Vua cha tức giận, sai người đi bắt Kính Xuyên và Thảo Mai, còn truyền cho Trưởng Tử Xích Lân lên đón bà về. Sau đó Chầu Đệ Tam được rước về Thoải Phủ, kết duyên cùng Liễu Nghị, người được giao cho chức Quốc Tế Thủy Quan. Còn Kính Xuyên và Thảo Mai thì bị gia hình chịu tội (Câu Chuyện này được lưu lại trong tích “Liễu Nghị truyền thư”).
Như Chầu Đệ Nhất và Chầu Đệ Nhị, Chầu Đệ Tam được thờ ở các cửa sông cửa biển, nơi có lập đền thờ Mẫu Đệ Tam, nhưng nơi được mọi người biết đến nhiều hơn cả là Đền Thác Hàn ở tỉnh Thanh Hóa.
Tiệc Chầu vào ngày 10/6

__________________

CHẦU ĐỆ TỨ KHÂM SAI

Chầu Đệ Tứ Khâm Sai. Vốn xưa bà là Bồng Lai Tiên Nữ (có tài liệu ghi rằng bà là Mai Hoa Công Chúa trên Thiên Cung).
Bà giáng thế hạ trần (có sách nói rằng bà giáng vào nhà họ Lí, tên là Lí Thị Ngọc Ba), sinh quán ở đất Quý Hương, An Thái, Vụ Bản, Nam Định, sau đó trở thành vị nữ tướng, tương truyền chầu là người khảng khái, chính trực, ra trận nếu có kẻ nào làm sai phép quân thì “tiền trảm hậu tấu” (chém đầu kẻ đó trước sau rồi mới về tâu với vua), nhưng đã có công giúp vua ra dẹp giặc và trấn giữ ở vùng Hà Trung, Thanh Hóa nên được sắc phong là Chiêu Dung Công Chúa. Sau này khi trở về Thiên Đình, bà được giao quyền khâm sai Tứ Phủ (từ Thủy Phủ cho tới Thiên Cung), Tam Tòa, biên chép sổ Thiên Đình, quyền cai bản mệnh gia trung (vậy nên có khi người ta còn gọi là Bà Thủ Bản Mệnh). Có khi chầu lại được coi là vị chầu bà giữ sổ Tứ Phủ, coi kho ngân xuyến, kề cận bên Mẫu Liễu Hạnh ở đất Phủ Dày. Đôi khi thanh nhàn, chầu truyền các tiên nàng dạo chơi khắp chốn, từ quê hương ra kinh thành, vân du khắp mọi nơi.
Chầu Đệ Tứ cũng ít khi về ngự đồng. Người ta thường hay hầu chầu khi về đền thờ chầu hoặc đất Nam Định (là nơi chầu kề cận Mẫu). Thường thì khi có đàn mở phủ mà đồng tân dâng bốn tòa Sơn Trang thì thỉnh chầu về chứng tòa màu vàng. Khi chầu ngự về mặc áo màu vàng, cầm quạt khai cuông rồi thường múa kiếm và cờ lệnh (chầu ra trận hoặc cầm cờ hiệu khâm sai), cũng có nơi hầu Chầu về múa quạt, múa mồi hoặc chỉ khai cuông rồi an tọa (điều này là do tập tục từng nơi).

Đền Chầu Đệ Tứ cũng được lập ở ba nơi: đầu tiên là Phủ Bà _Chầu Đệ Tứ nằm trong quần thể Phủ Dày (vì coi là chầu cận Mẫu) thuộc Vụ Bản, Nam Định (đồng thời là nơi quê nhà của chầu), tiếp theo là Đền Cây Thị_Đền Chầu Đệ Tứ thuộc Hà Trung, Thanh Hóa (là nơi chầu dẹp giặc) và ngoài ra ở Hà Nội còn có ngôi đền thờ vọng chầu ở bên bờ sông Hồng, gần cầu Chương Dương, Gia Lâm gọi là Đền Duyên Trường_Đền Chầu.
Theo một tài liệu ghi lại thì ngày chính tiệc của Chầu Đệ Tứ là ngày 14/3 âm lịch

__________________

CHẦU NĂM SUỐI LÂN
Chầu Năm Suối Lân. Chầu Năm vốn là người Nùng, dưới thời Lê Trung Hưng ( còn có tài liệu ghi lại rằng, chầu là công chúa tìm nơi thanh vắng, đền cảnh Suối Lân thì chầu ở lại giúp dân).
Theo lệnh vua, chầu trấn giữ cửa rừng Suối Lân bên dòng sông Hóa, coi sóc khắp vùng sông Hóa. Ở đó chầu không chỉ trấn giữ nơi sơn lâm mà còn giúp dân làm ăn, dạy dân đi rừng, làm nương. Sau này, chầu hóa tại đó và hiển linh giúp dân thuần phục mọi loài ác thú, trừ diệt sơn tinh, ma quái. Tương truyền vào những đêm thanh, chầu hiện hình cùng 12 cô hầu cận bẻ lái giữa dòng sông Hóa.

Thông thường thì Chầu Năm ít ngự đồng hơn là Chầu Lục, chầu chỉ thường ngự trong ngày tiệc vui hoặc những ai sát căn về chầu thì mới hay hầu. Tuy nhiên Chầu Năm cũng là vị chầu bà trên sơn trang nên có đôi khi người ta cũng thỉnh chầu về chứng tòa Sơn Trang. Chầu ngự về đồng thường mặc áo màu lam (bây giờ ở một số nơi, để tránh áo Chầu Năm trùng với áo Chầu Lục thì người ta thường dâng chầu áo xanh thiên thanh và coi đó là màu áo của dòng Suối Lân hoặc chầu cũng có thể mặc áo màu xanh như của Chầu Đệ Nhị), chầu khai cuông rồi múa mồi. Chầu Năm là vị chầu bà cũng có thể chứng cho con nhang đệ tử đội mâm giầu trình.

Đền thờ Chầu Năm Suối Lân được lập bên bờ con sông Hóa, qua cầu Sông Hóa 2 thuộc huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn, tên là Đền Suối Lân, dòng suối Lân chảy cạnh đền quanh năm nước trong veo, xanh ngắt. Ngày tiệc chầu được tương truyền là ngày 20/5 (nguồn tài liệu chưa chắc chắn nên chỉ đưa ra để tham khảo).

__________________

CHẦU LỤC CUNG NƯƠNG
Chầu Lục Cung Nương vốn là người Nùng (vì vậy nên có người còn gọi bà là Mế Lục Cung Nương), con nhà lệnh tộc trên vùng Chín Tư, Lạng Sơn cũng dưới thời Lê Trung Hưng.
Tương truyền, chầu vốn là tiên nữ trên Thiên Đình, chẳng may để rơi chén ngọc nên bị trích giáng xuống trần gian. Chầu giáng sinh vào nhà họ Trần (cha họ Trần, mẹ họ Hoàng) vốn là lệnh tộc trên miền Lạng Sơn (lại có tài liệu cho rằng Chầu Bà giáng sinh vào nhà họ Quách vào giờ Mão, ngày Mão, tháng Mão, năm Kỉ Mão, được đặt tên là Quách Thị Hồng Hoa), được 19 năm thì mãn hạn về chầu Đế Đình, nhưng vì chầu còn thương nhớ phụ mẫu nơi trần gian nên Ngọc Đế cho bà hiển thánh, cai giữ miền non ngàn sơn trang, nơi rừng Chín Tư, Hữu Lũng. Cũng như Chầu Năm, Chầu Lục hiển ứng giúp dân làm trồng trọt. Tuy anh linh nhưng bà cũng rất đành hanh, còn lưu truyền rằng, chầu thường cùng các bạn tiên nàng giả làm các cô gái người Nùng, bán hàng, ung dung cợt khách qua đường.
Chầu Lục cũng là một trong các vị chầu danh tiếng trên ngàn có lẽ bởi vì chầu rất hay bắt đồng. Cũng như Chầu Đệ Nhị, người ta cũng thường hay thỉnh Chầu Lục về ngự đồng. Đôi khi Chầu Lục lại là giá chầu về sang khăn cho đồng tân lính mới và chứng đàn Sơn Trang trong lễ mở phủ. Chầu Lục cũng có thể chứng mâm giầu trình. Khi ngự đồng, chầu mặc áo màu lam (hoặc màu chàm xanh), khai cuông rồi múa mồi.

Đền thờ Chầu Lục Cung Nương được lập tại thôn Chín Tư, xã Hòa Lạc, huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn (tương truyền là nơi chầu hạ phàm và hiển thánh) được gọi là Đền Lũng hay Đền Chín Tư. Trong năm ngày tiệc Chầu Lục có hai ngày là ngày 10/5 âm lịch (có người nói đó là ngày đản sinh của chầu nhưng điều này cũng chưa chắc chắn) và ngày 20/9 âm lịch (có người cho đó là ngày hóa, có người lại cho rằng đó mới là ngày đản sinh của chầu chứ không phải là 10/5 âm lịch).

__________________

CHẦU BẢY KIM GIAO ( CHẦU BẨY TÂN LA)
Chầu Bảy Kim Giao vốn là người Mọi, chầu giáng thế để giúp dân. Chầu hạ sinh vào gia đình ở đất Thanh Liên, Mỏ Bạch, Thái Nguyên, sau này chầu giúp dân dẹp loài xâm lăng trên đất Thái Nguyên rồi bà cũng là người giúp người dân tộc Mọi biết làm ăn canh tác trồng trọt chăn nuôi (còn có người cho rằng bà chính là người dạy dân biết trồng chè tuyết). Sau này khi về thiên, chầu được giao quyền quản cai núi rừng Mỏ Bạch, Thái Nguyên, tương truyền vào những đêm canh khuya chầu thường hiện hình dạo chơi, cùng các tiên nàng hội họp giữa rừng xanh (Lại có tài liệu cho rằng bà là một vị nữ tướng dưới thời Hai Bà Trưng, cùng Chầu Bát đánh giặc và sau được thờ tại Tân La, Hưng Yên nên còn gọi là Chầu Bảy Tân La).
Chầu Bảy là vị chầu bà ít khi ngự đồng nhất trong hàng Tứ Phủ Chầu Bà. Rất hiếm khi thấy có người nào hầu mà bà về ngự. Nếu có chỉ là khi về đền chính của chầu, bà ngự đồng mặc áo màu tím (hoặc màu xanh), khai cuông rồi múa mồi.
Đền thờ Chầu Bảy Kim Giao là Đền Kim Giao tại Thanh Liên, Mỏ Bạch thuộc tỉnh Thái Nguyên (tương truyền là nơi còn in dấu tích của bà năm xưa).

__________________

CHẦU TÁM BÁT NÀN
Chầu Tám Bát Nàn là vị chầu bà giáng sinh dưới thời nước ta còn trong ách đô hộ của nhà Đông Hán, tên thật của bà là Vũ Thị Thục Nương, con gái thầy thuốc Vũ Chất, nguyên quán ở Phượng Lâu, Bạch Hạc (nay thuộc Vĩnh Phúc).
Tương truyền, gia đình họ Vũ vốn thuộc dòng hào phú, một hôm ông Vũ Chất đi dạo chơi qua ngọn núi nọ, thấy ngôi miếu thờ Sơn Tinh Công Chúa được lập từ thời thượng cổ, nay hoang tàn đổ nát, ông thành tâm liền huy động nhân dân quanh vùng góp tiền của công sức để tu sửa lại ngôi đền khang trang hơn.

Khi về đến nhà chợt nằm mộng thấy có người tiên nữ đến xin làm con để trả ơn đã sửa đền. Liền đó, vợ ông thấy gió thu thổi, rồi có bóng người tiên nữ hiện ra trong làn hoa rơi trước cửa, kế đến thái bà thụ thai, đến ngày rằm tháng tám thì hạ sinh được chầu bà.

Bà là người con gái xinh đẹp đảm đang lại giỏi cung kiếm. Thái Thú Giao Châu lúc bấy giờ là Tô Định đem lòng si mê, muốn cùng bà kết duyên nhưng bà không chịu. Hắn bèn sai người giết hại cha bà cùng với lang quân của bà là Phạm Danh Hương. Thù nhà nợ nước, bà bèn tập hợp quân dân phất cờ khởi nghĩa. Vào năm 40 (SCN), chầu cùng với Hai Bà Trưng đánh đuổi được quân xâm lược Đông Hán (trong tích này còn lưu truyền câu chuyện, khi dấy binh ở Tiên La thì chầu bà đã nghe tiếng Hai Bà Trưng hiệu triệu, nhưng còn băn khoăn chưa biết có nên tập hợp nghĩa quân cùng Hai Bà không, thì vào đêm đó, chầu nằm mơ thấy nữ thần vâng lệnh Ngọc Hoàng xuống trao cho chầu bà lá cờ thần (cờ xan) và khuyên chầu nên theo Hai Bà Trưng phất cờ dẹp giặc, và Chầu Bát đã làm theo ý trời, về Mê Linh tụ nghĩa), chầu được Bà Trưng Vương phong cho là Bát Nàn Đông Nhung Đại Tướng Quân (còn có cách giải thích là chầu đã giúp dân thoát khỏi tám nạn của quân đô hộ nên có danh “Bát Nàn Tướng Quân” là do đọc chệch từ “bát nạn”), giao cho bà cùng với bà Lê Chân (Thánh Thiên Công Chúa) trấn giữ miền duyên hải (từ Hải Phòng đến Thái Bình).

Năm 43 (SCN), sau ba năm nước nhà độc lập, quân Đông Hán dưới quyền chỉ huy của Mã Viện, quay lại xâm chiếm nước ta, bà cùng với Hai Bà Trưng kiên cường đánh trả, nhưng do thế yếu ( trong trận quyết chiến cuối cùng, quân giặc đã dùng kế hiểm, biết binh sĩ ta toàn nữ giới, nên chúng hò nhau khỏa thân xông vào, các bà không chống đỡ nổi phải rút lui), cuối cùng chầu cũng theo gương hai bà, trẫm mình để bảo toàn khí tiết (có tài liệu còn ghi lại khi bà kéo quân về đến ngã ba Nông thì đột nhiên có dải lụa hồng từ đâu bay tới, thế là quân giặc liền hò réo để bao vây bà, thi thể của bà xẻ làm tám mảnh, trôi về đâu, hiển ở đấy để nhân dân lập đền thờ).

Chầu Bát cũng thường hay ngự về đồng (nhất là trong những dịp tiệc vui hoặc về đền chầu). Khi ngự đồng bà thường mặc áo màu vàng (trước đây thì thường lại là màu xanh), đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) màu vàng, có dải von hoặc vỉ lét thắt dải buộc, sau lưng dắt kiếm và cờ lệnh, tay múa kiếm và cờ lệnh ngũ sắc.

Đền thờ Chầu Tám Bát Nàn có ở rất nhiều nơi: nổi tiếng nhất có Đền Tiên La thuộc thôn Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (tại đây là nơi nhân dân chịu ơn chầu cũng là nơi di thể chầu trôi về, nên ở đây chầu còn được tôn xưng hẳn là Mẫu Tiên La, nên cũng có khi gọi là Chầu Bát Tiên La), tại đây vẫn còn lưu truyền câu chuyện: khi Chầu Bát đã thác ở trên ngàn, chầu còn hóa phép đốn cây rừng, đóng thành bè gỗ theo dòng trôi về bến sông gần đền Tiên La rồi bà báo mộng cho người thủ đền cùng dân quanh vùng ra đón bè về để tu sửa đền. Tiếp đến là Đền Đồng Mỏ, thuộc thị trấn Đồng Mỏ, tỉnh Lạng Sơn (tương truyền là nơi chầu hóa), ngoài ra còn có Đền Tân La ở Dốc Lã thuộc tỉnh Hưng Yên (là nơi chầu đóng quân) và Đền Tiên La (đền vọng) hay còn gọi là Đền Tám Gian tại đường Lê Lợi, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng (cũng là nơi di hài chầu trôi về, tại đây bà còn được tôn xưng với tên Chúa Bát Nàn, thường được hầu sau hàng Tam Vị Chúa Mường, về làm lễ tấu hương và khai quang như quan lớn chứ không hầu vào hàng Tứ Phủ Chầu Bà như thông thường) và còn rất nhiều đền khác trong tỉnh Thái Bình và nơi quê nhà của bà ở tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày tiệc của Chầu Bát là ngày 17/3 âm lịch (là ngày chầu hóa).

__________________

CHẦU CHÍN CỬU TỈNH
Chầu Chín Cửu Tỉnh. Chầu bà vốn là tiên nữ trên Thiên Đình, sinh giáng ở đất Bỉm Sơn, Thanh Hóa, làm phúc giúp dân.
Sau này khi thác hóa bà trờ thành vị Chầu Bà kề cận, biên chép sổ sách bên Cửu Trùng Thiên Cung Vạn Hoa Vương Mẫu. Khi thanh nhàn chầu thường cùng bạn cát dạo chơi khắp nơi, giáng hiện tại đất Thanh Hóa (có tài liệu cho rằng bà cũng là người cai quản chín mạch nước giếng âm dương trên đất Thanh. Theo âm Hán: Cửu là chín, Tỉnh là giếng nên Cửu Tỉnh cũng có nghĩa là chín giếng), có khi chầu cũng giá ngự trong Đền Sòng (vì vậy đôi khi người ta cũng gọi là Chầu Cửu Đền Sòng). Cũng có quan niệm cho rằng bà là Thụy Hoa Công Chúa (hay có một số sách nói là Chầu Quỳnh) trên Thiên Cung, xuống Đồi Ngang, Phố Cát, kề cận bên Mẫu Liễu Hạnh.
Chầu Cửu thường hay ngự đồng khi về các ngôi đền ở Phủ Dày, Nam Định hoặc Đền Sòng, Thanh Hóa. Khi ngự đồng chầu mặc áo màu đỏ (có một số nơi dâng chầu áo màu hồng), khai quang rồi múa mồi.
Vì coi là kề cận bên Mẫu nên Chầu Cửu thường được thờ chính ở những ngôi đền chính của Mẫu như Đền Rồng, Thanh Hóa và Phủ Bóng, Nam Định ngoài ra ở một số đền còn thờ chầu làm Chầu Thủ Đền coi giữ trong bản đền. Nhưng ngôi đền được coi là đền chính của chầu là Đền Sòng Sơn ở Bỉm Sơn, Thanh Hóa

__________________

CHẦU MƯỜI ĐỒNG MỎ

Chầu Mười Đồng Mỏ. Chầu Mười vốn là người Tày, dưới thời Lê Thái Tổ Trung Hưng khởi binh chống giặc Minh.
Chầu sinh quán trong một gia đình có truyền thống đao cung ở đất Mỏ Ba (Đồng Mỏ), Lạng Sơn. Sau này, chầu trở thành vị nữ tướng tài ba, tập hợp quân dân các dân tộc ở đất Đồng Mỏ, giúp vua Lê đánh đuổi giặc Minh. Vua rất tin tưởng, giao cho chầu trấn giữ các châu, nơi cửa ải Chi Lăng. Trong trận quyết chiến Chi Lăng, Xương Giang, chầu đã lập chiến công, chém cụt đầu tên tướng giặc là Liễu Thăng. Kháng chiến thắng lợi, bà được vua phong công, giao cho cai quản vùng Mỏ Ba, Đồng Mỏ, trấn giữ ải Chi Lăng. Tại vùng Mỏ Ba, ba giúp dân lập xóm ấp làng bản, dạy dân làm ăn, được già trẻ xa gần ai ai cũng mến phục. Đến cuối mùa thu thì chầu về tiên.
Chầu Mười thường hay về ngự đồng trong các dịp tiệc vui hoặc các cửa đền ở đất Lạng Sơn. Khi ngự đồng, chầu thường mặc áo vàng, một múa kiếm, tay kia múa cờ lệnh (hoặc mồi) là khi chầu xông pha nơi trận mạc.
Đền Chầu Mười được lập ngay sát cửa ải Chi Lăng, nơi bà trấn giữ năm xưa, chính là Đền Chầu Mười Đồng Mỏ hay Đền Mỏ Ba, lập tại xã Mỏ Ba, thị trấn Đồng Mỏ, Lạng Sơn, lập trên ngọn núi cao

__________________

CHẦU BÉ BẮC LỆ

Chầu Bé Bắc Lệ. Chầu Bé vốn gốc người Nùng, dưới thời Lê Thái Tổ, chầu giáng sinh xuống miền Bắc Lệ, Lạng Sơn.
Chầu cũng là vị có công giúp dân, giúp nước. Có tài liệu cho rằng Chầu Bé tuy là một vị chầu bà người Nùng trên Lạng Sơn, nhưng chầu lại chính là do Mẫu Thượng Ngàn hóa thân, giúp vua Lê Thái Tổ trong cuộc kháng chiến mười năm chống quân Minh, và sau này được vua phong là Lê Mại Đại Vương. Vậy nên đôi khi Chầu Bé cũng được đồng nhất với Bà Chúa Sơn Trang. Chầu dạo chơi khắp chốn thắng cảnh hữu tình, dạy dân chúng trồng trọt chăn nuôi, lên rừng làm ruộng bậc thang, xuống sông suối đánh bắt cá tôm. Tương truyền, Chầu Bé có phép thần thông do Đức Thái Tổ ban quyền có thể lay núi chuyển ngàn, đôi lúc rong chơi chầu lấy tàu lá giả làm hàng bán để trêu đùa người trần gian. Tuy đành hanh sắc sảo nhưng chầu cũng hết sức nhân hậu, có việc dữ lành chầu đều mách bảo cho người trần.
Chầu Bé cùng với Chầu Đệ Nhị và Chầu Lục, là một trong ba vị Chầu Bà trên Thượng Ngàn hay về ngự đồng nhất. Tuy thứ bậc chầu gần như là cuối cùng trong hàng Tứ Phủ Chầu Bà nhưng không một ai hầu mà chầu không ngự đồng. Chầu ngự về đồng thường hay mặc áo đen (hoặc xanh chàm, còn trước đây chầu chỉ mặc quầy và áo ngắn đến hông), chân đi xà cạp, trên vai đeo gùi hoa, chầu về đồng thường khai quang rồi múa mồi. Đôi khi Chầu Bé có thể giống như Chầu Đệ Nhị và Chầu Lục: chầu về chứng tòa Sơn Trang trong đàn mở phủ, sang khăn cho tân đồng hoặc chứng mâm giầu trình.
Đền thờ chính của Chầu Bé là ngôi đền nhỏ bên cạnh đền Bắc Lệ ở xã Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn với ngày tiệc chầu thì có nơi nói là 12/9 âm lịch, có nơi nói là 19/9 âm lịch. Ngoài Chầu Bé Bắc Lệ ra thì ở một số bản đền có các Chầu Bé cũng trên Thượng Ngàn, là Chầu Bé coi giữ ở đền đó và chỉ khi về chính đền, các vị đó mới ngự. Đó là:
·Chầu Bé Đông Cuông (ở Đền Đông Cuông, Yên Bái)
· Chầu Bé Đồng Đăng (ở Đền Đồng Đăng, Lạng Sơn)
· Chầu Bé Tam Cờ (ở Đền Tam Cờ, Tuyên Quang)
· Chầu Bé Đền Ghềnh (ở Đền Ghềnh, Hà Nội)
Nhưng thông thường, người ta chỉ hay hầu về Chầu Bé Bắc Lệ (cũng bởi vì có khi người ta coi các vị Chầu Bé kia cũng chỉ là Chầu Bé Bắc Lệ, giáng hiện ở khắp nơi, được phụng thờ ở đền đó làm Chầu Bé bản đền nên mang các tên gọi khác nhau).

__________________

CHẦU BÉ THOẢI CUNG
Bà cũng gọi là Chầu Bé nhưng khác với các vị Chầu Bé ở trên thượng bà là vị Chầu Bà về hàng Thoải Cung.
Chỉ ở một số ngôi đền mới có thờ riêng Chầu Bà coi giữ bản đền (như Chầu Đệ Tứ, Chầu Cửu, Chầu Bé Đông Cuông…) còn lại đa số các ngôi đền (và cả các bản điện tại gia) thì đều có một vị Chầu Bà gọi là Chầu Thủ Đền hay Chầu Thủ Điện. Đó chính là Chầu Bé Thoải hay cũng có khi gọi là Chầu Bé Bản Đền. Chầu là người có quyền coi giữ, ra vào trong bản đền, tất cả những ai vào lễ trong bản đền đều phải tấu đến chầu.
Tuy ngự ngay trong bản đền nhưng Chầu Bé Thoải rất ít khi ngự về đồng, mà chỉ tráng bóng để chứng đầu đồng. Đôi khi có tiệc khai đàn mở phủ mà có dâng bốn tòa Sơn Trang thì chầu thường hay chứng tòa trắng (thay cho Chầu Đệ Tam, và cả những khi Chúa Thác Bờ không về) sau đó chứng bản đền luôn. Khi ngự đồng chầu hay mặc áo trắng, khai cuông.
Chầu Bé Thoải là tên chỉ chung cho các chầu bà coi giữ bản đền nên hầu như ở đền nào cũng có thờ một vị Chầu Bà như thế.

__________________

ÔNG HOÀNG CẢ

Là con của vua cha Bát Hải Động Đình, là cả trong Tứ phủ Ông Hoàng, giáng sinh đầu tiên. Sau đó, lên cõi thượng thiên coi giữ sổ sách.

Ông Hoàng Cả (thường gọi tắt là Ông Cả) hay còn gọi là Ông Hoàng Quận. Ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Trong Tứ Phủ Ông Hoàng, ông là anh cả, giáng sinh ra đầu. Sau này ông lên cõi Thượng Thiên, coi giữ sổ sách.Thiên Tào. Có khi ông rong chơi khắp chốn khi chơi Thiếu Lĩnh, lúc chơi Non Bồng. Ông dạo khắp các nơi Bồng Lai, Tiên Cảnh, khi trên thượng giới ông cuỡi con Xích Long, khi dạo chơi trên mặt nước Ông Hoàng cưỡi lốt tam đầu cửu vĩ. Có khi ông cũng ngự lên cõi trần gian phù hộ cho người làm ăn buôn bán hoặc kẻ học hành khoa cử. Tuy nhiên Ông Hoàng Cả không giáng trần.

Ông Cả rất ít khi ngự đồng, khi ngự về ông thường mặc áo đỏ (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét đỏ. Ông Hoàng Cả ngự về thường chỉ tấu hương, khai quang (cũng có người hầu ông về múa hèo, nhưng khá hiếm vì không mấy người hầu về Ông Cả)
Ông Hoàng Cả không giáng trần nên không có đền thờ.

__________________

ÔNG HOÀNG ĐÔI

Ông Hoàng Đôi (thường gọi tắt là Ông Đôi) hay còn gọi là Ông Triệu Tường: là con trai Đức Vua Cha. Ông theo lệnh, giáng sinh lên cõi trần gian, làm con trai thứ hai nhà họ Nguyễn, sau đó ông trở thành danh tướng, có công giúp nhà Lê trong công cuộc “Phù Lê Dẹp Mạc”, ông là người đã đem quân truy đuổi họ Mạc đến tận đất Cao Bằng, rồi ông được vua Lê phong công, giao cho kéo binh đóng ở đất Tống Sơn, Triệu Tường, Thanh Hóa.

Ông Đôi cũng khá ít khi ngự đồng, nếu có ngự về, ông mặc áo như Ông Hoàng Cả (nhưng màu xanh), chỉ có ở Hà Nội là hay thỉnh ông về nhưng lại thỉnh ông như một vị Quan Lớn (gọi là Ông Lớn Triệu Tường), ngự sau giá Quan Điều Thất, ông về tấu hương, khai quang rồi múa cờ lệnh (cờ lệnh đại, vuông, ngũ sắc).

Đền thờ Ông Hoàng Đôi được lập ở nơi mà xưa kia ông đã kéo binh vê đóng ở đó gọi là Đền Triệu Tường (hay còn gọi là Đền Quan Triệu) ở đất Tống Sơn, núi Triệu Tường, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa, ngoài ra ở Hà Nội cũng có một ngôi đền gọi là Đền Quan Triệu (hay tên thường gọi là Đền Hoàng).

__________________

ÔNG HOÀNG BƠ
Ông Hoàng Bơ (thường gọi tắt là Ông Bơ) hay còn gọi là Ông Bơ Thoải. Ông là con trai thứ ba hàng Tứ Phủ Ông Hoàng, con trai vua Long Vương Bát Hải Động Đình. Ông Hoàng Bơ thường ngự dưới tòa Thoải Cung, coi giữ việc trong Đền Vàng Thủy Phủ. Có khi ông biến trên mặt nước, hiện lên chân dung một vị Hoàng Tử có diện mạo phi phương, cưỡi cá chép vàng. Đôi lúc ông biến hiện, ngồi trên con thuyền, rong chơi khắp chốn, cùng các bạn tiên uống rượu, ngâm thơ, đàn hát, trông trăng, đánh cờ, hưởng thú vui của các bậc tao nhân mặc khách (có điển tích nói rằng, Ông Bơ cũng là người em trai thân cận bên Quan Lớn Đệ Tam, khi thanh nhàn các ông thường ngự thuyền rồng, cùng dạo chơi khắp chốn), nhưng thấy cảnh dân chúng còn lầm than, vua cha sai ông lên khâm sai cõi trần, mở hội Phúc Duyên, giáng phúc cho dân, độ cho kẻ buôn bán làm ăn, người học hành đỗ đạt.

Ông Bơ là một trong ba vị Ông Hoàng hay về ngự nhất. Khi giá ngự đồng, ông mặc áo trắng (có thêu rồng kết uốn thành hình chũ thọ), thắt đai vàng, đầu đội khăn xếp có thắt lét trắng, cài chiếc kim lệch màu trắng bạc. Có khi ông ngự về tấu hương, khai quang rồi một tay cầm mái chèo, một tay cầm quạt thong thả bẻ lái dạo chơi, cũng có khi ông cầm đôi hèo hoa, rong ruổi cưỡi ngựa đi ngao du sơn thủy.

Ông Hoàng Bơ không giáng sinh lên trần phàm nên không có đền thờ riêng. Ông thường được coi là ngự trong Đền Lảnh Giang (cùng với Quan Tam Phủ) và Đền Đồng Bằng (kề cận bên Đức Vua Cha Bát Hải).
ngày 26/6 là ngày tiệc của ông.

ÔNG HOÀNG LỤC – AN BIÊN ĐẠI TƯỚNG QUÂN
Quan Hoàng Lục sinh ngày 10-8-1038, tại xã Lũng Đĩnh, châu Thượng Lang(nay là xã Đình Phong, huyện Trùng Khánh) trong một gia đình nhiều đời làm tù trưởng. Năm 18 tuổi ông đã tinh thông binh pháp, am hiểu sử sách. Năm 1075, biết trước âm mưu xâm lược nước Đại Việt của nhà Tống, vua Lý Nhân Tông với chiến thuật “Tiên pháp chế nhân” đã cử Thái uý Lý Thường Kiệt xuất quân tiến đánh, đốt phá kho tàng của quân Tống ở vùng châu Khâm, châu Liêm nhằm làm giảm ý chí xâm lược của nhà Tống. Nhận được mật lệnh của thái uý Lý Thường Kiệt, Hoàng Lục cùng Tôn Đản, Nùng Chí Xuân, Nùng Trí Cao trở thành bộ tướng dũng mãnh của Lý Thường Kiệt tung hoành ngang dọc trên đất Tống. Phá tan âm mưu xâm lược của nhà Tống, Lý Thường Kiệt ra lệnh rút quân về nước xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt và tin cậy giao cho Hoàng Lục trấn giữ vùng Đông Bắc từ Quảng Uyên đến Phục Hoà. Ông mất ngày 22-4-1108 tạ Phục Hoà, quân sĩ và nhân dân đã tổ chức đưa thi hài ông về chôn cất tại quê hương Lũng Đính. Với những công lao to lớn trong việc gìn giữ biên cương, Hoàng Lục được phong là An Biên tướng quân. Để tưởng nhớ công lao của ông, nhân dân vùng Lũng Đính đã xây dựng đền thờ ông trên đỉnh núi Đoỏng Lình. Đền thờ Hoàng Lục đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh.
Hàng năm đến ngày 28-2 âm lịch,( là ngày tiệc của ông) nhân dân trong vùng tổ chức lễ hội để ôn lại công lao của Hoàng Lục và truyền thống chống giặc cứu nước của cha ông. Sau phần lễ, bà con nô nức tham gia hội tung còn, kéo co, múa võ, biểu diễn văn nghệ…….
Quang Hoàng Lục rất ít khi ngự đồng, chỉ khi nào ngày tiệc ông hay về đến đền thờ ông thì mới hầu ông. Khi ngự đồng, có khi ông mặc áo đỏ, vì ông là người dân tộc nên cũng có khi ông mặc áo đen hay áo xanh thêu rồng hình chữ thọ và khoác áo choàng. Khi làm việc, ông khai quang, múa cờ, kiếm.

__________________

ÔNG HOÀNG BẨY BẢO HÀ
Ông Hoàng Bảy hay thường gọi là Ông Bảy Bảo Hà. Ông là con Đức Vua Cha. Theo lệnh vua, ông giáng phàm trần, trở thành con trai thứ bảy trong danh tộc họ Nguyễn, cuối thời Lê.

Vào triều Lê Cảnh Hưng, có giặc Trung Quốc từ Vân Nam tràn sang cướp bóc, đốt phá. Triều đình bèn cử ông, dọc theo sông Hồng, lên đánh đuổi quân giặc và trấn giữ vùng biên ải nơi Bảo Hà, Lào Cai.

Tại đất Bảo Hà, ông thống lĩnh lục thủy, đánh đuổi quân giặc về vùng Vân Nam, sau đó ông chiêu dụ các thổ hào địa phương đón người Dao, người Thổ, người Nùng lên khẩn điền lập ấp. Sau này trong một trận chiến đấu không cân sức, Ông Bảy bị giặc bắt, chúng tra khảo hành hạ dã man, nhưng ông vẫn một lòng kiên trung, quyết không đầu hàng, cuối cùng, không làm gì được, chúng sát hại ông rồi mang thi thể vứt xuống dòng sông.

Kì lạ thay, di quan của ông dọc theo sông Hồng, trôi đến phà Trái Hút, Bảo Hà, Lào Cai thì dừng lại. Còn một điều kì lạ nữa là khi ông bị giặc sát hại, thì trời bỗng chuyển gió, mây vần vũ, kết lại thành hình thần mã (ngựa), từ thi thể ông phát ra một đạo hào quang, phi lên thân ngựa, đến Bảo Hà thì dừng lại, trời bỗng quang đãng, mây ngũ sắc kết thành hình tứ linh chầu hội. Sau này khi hiển linh ông được giao quyền cho trấn giữ đất Lào Cai, ngự trong dinh Bảo Hà.

Ông Hoàng Bẩy nổi tiếng là một Ông Hoàng không chỉ giỏi kiếm cung mà còn rất ăn chơi, phong lưu: khi thanh nhàn ông ngả bàn đèn, uống trà mạn Long Tỉnh, ngồi chơi tổ tôm, tam cúc, xóc đĩa… lúc nào cũng có thập nhị tiên nàng hầu cận, ông cũng luôn khuyên bảo nhân dân phải ăn ở có nhân có đức, tu dưỡng bản thân để lưu phúc cho con cháu. Triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị sắc tặng ông danh hiệu “Trấn An Hiển Liệt” và các triều vua nhà Nguyễn khác tôn ông danh hiệu: “Thần Vệ Quốc_ Ông Hoàng Bảy Bảo Hà”.
Ông Bảy là Ông Hoàng hay ngự về đồng nhất, cũng bởi vì trong hàng Tứ Phủ Ông Hoàng, ông rất hay chấm lính bắt đồng (có quan niệm cho rằng, những người nào mà sát căn Ông Bảy thì thường thích uống trà tàu, hay đánh tổ tôm, xóc đĩa…). Khi ngự về đồng, ông thường mặc áo lam hoặc tím chàm (thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét lam, cài chiếc kim lệch màu ngọc thạch. Ông ngự về tấu hương, khai quang rồi cầm đôi hèo, cưỡi ngựa đi chấm đồng. Đến giá Ông Bảy về ngự, nếu ông ném cây hèo vào người nào thì coi như ông đã chấm đồng người đó. Lúc ông giá ngự, thường dâng ông ba tuần trà tàu rồi thuốc lá có tẩm thuốc phiện.

Đền thờ Ông Hoàng Bảy được lập tại nơi năm xưa di hài của ông lưu lại là Đền Bảo Hà, nằm ở chân đồi Cấm, bên bờ thượng lưu sông Hồng, ở bên bến phà Trái Hút, thuộc xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai (Vì thú chơi phong lưu của ông nên nơi ông ngự còn được mệnh danh là Trái Hút Bảo Hà). Ngày tiệc chính của ông là ngày 17/7 âm lịch, vào ngày này, ở đền ông tập nập du khách thập phương đến dâng ông ngựa xám, bàn đèn, thuốc cống, kẹo xìu (kẹo lạc)… để cầu tài cầu lộc.

VỊNH BẢO HÀ

Hồng Hà sóng nước mênh mang
Dập dờn, bè nứa, thu sang trăng tà
Nước non, non nước Bảo Hà
Nhớ ông Hoàng Bẩy đậm đà thề xưa
Tay tiên, chén rượu cuộc cờ
Ngắm Hoàng cúc nở suy tư tình đời

(Bài thơ được lưu tại đền Bảo Hà)

__________________

ÔNG HOÀNG BÁT BẮC QUỐC

Ông Bát là họ Tống, người Trung Hoa. (có người cho rằng ông gốc là người Nùng) Ông làm Đại Tướng trấn cảnh Lào Cai và Bảo Hà trống giặc từ phía Bắc tràn xuống. Về đồng mặc áo vét kiểu Tàu, ào dài Tàu (cheongsam) và buộc tóc đời Nhà Thanh. Ông múa quát, ngâm thơ Tàu, và uống trà, lại nói tiếng Quảng Đông và Phổ Thông (Tiếng Quan Thoại). Trong tứ phủ ông hoàng, Ông Hoàng Bát cũng hiếm khi ngự đồng. Thường một số phải là đồng cựu và có căn duyên với ông mới bắc ghế hầu. Cho nên đồng tân lính mới cũng ít khi biết đến. ( và chúng ta cũng có rất ít thông tin về Ngài) Ông Hoàng Bát không có đền thờ riêng, trong hệ thống tứ phủ, người ta cũng hiếm thấy ông được thờ tại bất kỳ đền phủ nào. Mà ông chỉ được thỉnh và thờ vọng chung.

Văn Ông Hoàng Bát

Đền thờ bát ngát bao la
Thỉnh mời Quan Bát Quốc ngà lục châu
Quản cai Thổ Mán sơn đầu
Sai quân đôn bộ đông hầu dạo chơi
Anh linh khắp bốn phương trời
Quan Hoàng Bát Quốc qua chơi nam thành
Đem quân dẹp giặc Nhà Thanh
Các ngôi Thổ Mán phục trình phải theo
Non cao quái họa đường chèo
Thổ Mường Mán Thai phải theo quy đầu
Quản cai sám sặp lộc châu
Thượng cầm hạ thú về chầu đôi bên
Sơn lâm các miếu các đền
Vào chơi trăm động cảnh tiên non bồng
Tay đàn miệng hát ca ngâm
Tiếng Kinh, Tiếng Mán, Tiếng Mường líu lô
Ông phán rằng tín nẳm đầy
côTú mì tim ý sám si ngằn cờ
Cầm tây chiên bẩn mì ô
Cẩn neo chinh trổ mị eo phổ mì
Sơn lâm phượng hót nhu mì
Tiếng chuông lác đác gọi ve gọi sầu
Dạo chơi khắp hết trăm châu
[Lên khăn áo:]
Dâng văn Quan Bát Bảo Hà
Vốn người nhà Tống sinh ra tướng tài
Võ thao lược hùng oai Quan có
Văn kinh luân Quan tế độ Việt Nhân
Sinh thời làm tướng trung thần
Tâm lòng ái quốc thương dân Quan còn
Việt cạn non mòn, lòng Quan thiết thạch
Ông quyệt đi diệt sâm loàn,
Đeo tai ách đến quê hương.
Quan Bát tung hoành trong điện dáo rừng hương
Mưa tên lủa đạn xem thường sử danh
Chàm tướng Chàm Thành, rừng xanh danh xứ
Lệnh sắc rồng Quan Bát trấn Lào Cai
Cờ cây trống giục quân gieo
Người leo lên ngựa, ngựa leo lên đồi
Tiếng thu hồi vang lừng khắp núi
Muốn có câu ca khúc Thái Hoàng Ca
Quan Bát về chầu bái mảng Vua Cha
Chè sen rượu cúc dâng tiến Quan Hoàng
Trong đền vàng khói hương nghi ngút

Rượu bồ đào ví hò tiến dâng lên
Mới nghe qua lời tâu của ghế
Nên Quan Bát Ngàn giáng thế
Trên Vua Mẫu đã truyền ban
Sai Quan Bát phán sam
Hôm nay Quan Bát ngự về đây
Ngài thông truyền cho hay
Khói hương thơm bay ngào ngạt
Con tiến văn đàn đàn hát hầu Ông
Vì ghế Ông đệ tử no lòng
Ông Bát giáng trần chứng tâm
Lộc sơn lâm bạc biển vàng rồng
Ông độ cho đồng vinh quang
Trên thái tùng hòa chiếu ra dân
Hội xe gía về đây
Chốn sơn trang núi rừng muôn thú nay
Đàn nghênh đức muốn ngâm thi thư

[Làm lễ:]

Chẻng Bat Gok xín xáng chóng hương bai sằn wòng (Thỉnh Bát Quốc tiên sinh thắp hương bái thần vương)

Đài nhắt luần bai xín xáng khàu gok ốn (Lần thứ nhất, tiên sinh bái cầu quốc an)

Đài yeè bai sểrng cầu mằn cường (Nhị bái, cầu cho dân khoẻ mạnh)

Đài sám chee khau mải mài cấy wùi chằm suển (Tam bái, cầu buôn bán được chọn cơ hội)

Trôi hàu bai Nhắt Bủn Màn Lỳ (Lại bái, cầu một vốn vạn lãi)

[Khai Quang:]

Bây giờ Hoàng gậy năm nàng
Cô nào việc ấy dịu dàng bước ra
Đông phương Cô Cả hái hoa
Nàng Đôi tươi tốt Nàng Ba ưa nhìn
Nàng Tư chơi cảnh hồ tiên

Cầm Quạt Dạo Chơi:]
Ghìm cương ngựa trước bể rồng Quan Bát bái mảng
Kính chúc Cụ Hoàng “Thọ Tị Nam San”
Chiếc quạt cầm tay Quan Bát phe phải nhẹ nhàng
Đèn loa trống giục rước Quan Bát Hoàng lai kinh
Áo lam biếc, chân hài sảo, quạt cầm tay
Ông biết phen này dạo chơi
Khắp sông núi bốn phương nguyện cầu
Độ chư thanh đồng ước lộc dài lâu
Danh vang lừng danh đã bao thời thời liệt quanh
Tướng danh có Quan Bát Hoàng cưú dân đời ghi nhớ
Bút thương Quan Hoàng chàm tướng
Lên ngựa Quan Bát về trời
Dấu thiêng nằm ghi để trang sự vẫn oai hùng
Quan Bát Hoàng năm lừng đây!
Quan Bát Hoàng năm lừng đây!
Nhà Quan thời chim hót líu lo
Tung cánh bay nhớn nhơ nào đó
Mừng Quan Hoàng hôm nay giáng vui
Độ cho người đồng nhân thắm tươi
Con kính dâng văn đàn Quan Bát giáng vui
Tay mang kiếm cung lên đường suôi dọc chiến kinh
Đàn nghênh mời Quan Bát Tối Linh
Nhang khói bay thoảng mờ thật kinh
Người ơn người Quan Bát Tối Linh
Người mong người độ cho an ninh
Dáng oai phong trước đền rồng
Hiền nào hùng oai phong như Quan
Tay cầm quạt tàu cầu an cho nhân gian
Ấn vua ban kiếm thần truyền
Giục ngựa thần Quan Bát đề minh
Hai miền Hà Giang, Bắc Mục còn
Ghi dấu danh tiếng Quan Bát Ngàn
Chốn biên cương núi trập trùng
Ông diệt bạo tàn loại xâm hương cung
Lệnh sắc rồng thằng ma cúng Ông
Con kính dâng văn đàn Quan Bát giáng vui
Tay mang kiếm cung Ông lên đường vui quân tiến trung
Hôm nay đây Quan Hoàng ngự vui vui vui thay
Chúng con cùng chung giúc ca vui ca vang
Mừng Quan Bát giáng lâm, mừng Quan Bát ngự đồng
Kẹo hồng kẹo đào dâng lên
Ông chứng tâm ông ban khen
Hôm nay ghế nhất tâm
Xin Quan Bát giáng lâm
Ông chứng tâm cho đồng lòng thành
Hôm nay Ông về nơi đây
Xiết bao mừng vui ca vang
Nghe tiếng Quan Hoàng anh linh nơi non xanh
Quan Bát Hoàng lập miếu dân cho dân an
Ghế nào căn số Quan Hoàng
Cầu ngài cầu ngài anh khang cho vinh quang
Danh Quan khắp bốn phương
Dân nào lúc tới xem
Xin cúi xin Quan Hoàng lòng ngài ban cho ghế Quan
Và cung văn xiết bao mừng vui
[(Điệu Quảng Hồ) Mời sơi trà:]
Cờ quân giặc phất phơ mệch đật a~!
Quan Bát ra sức tung hoành đục pháo xông tên a~!
Ngày hôm nay Quan Bát giá ngự đền a~ vàng.
Trà sen rượu cúc kính mời Quan Bát Ngàn sơi cạn.
Tay tiên kính dâng chung trà trà sen ngát hương
Đầy chùng trà sen tiến dâng mời
Đầy chùng thứ nhấp chung trà thơm ngát ngạt ngào
Hương thơm Quan Hoàng ngất ngây
Ngất ngây tâm hồn dành tiếng Quan Hoàng
Ngài thật, ngài thật hùng anh vang lừng bốn phương
Khắp thế gian co ai lịch sự bằng Quan?
Khắp thế gian co ai lịch sự bằng Quan?
Cung văn kính dâng văn đàn Quan Bát giáng vui
Danh Quan còn ghi trước đền rồng
Hương thơm nghi ngút Quan Hoàng danh tiếng
Đời đời còn ghi cho muôn người ấm no
Tiếng Quan Bát Hoàng danh tiếng oai hùng
Ngài thật, ngài thật hùng anh, anh hùng khắp bốn phương
Khắp thế gian khắp nơi sẽ được bình an!
Khắp thế gian khắp nơi sẽ được bình an!

[Điệu Vương Chiêu Quân]

Không biết Ông ra quanh năm
Ông cho bán buôn sịt bủn! (nghĩa: lỗ vốn)
Biết Ông Bát ra Ông gíup cho “Hòng vẩn phát xồi”! (Hồng vân phát tài)
Hú mài hú sám nhì yẩu đố đố sìn
Cháu còn đại đàn đắc pìng pìng ngốn a~!
Ngược suôi thông lợi “Nhắt bủn màn lỳ” (một vốn vạn lãi)
Ông chẳng gíup giêng ai
Ai hợp số Ông thương
Ống muốn người nhân thứ
Thương mến chư thanh đồng
Thiền tâm dót rắng con một lòng
Ông cũng cho gia đình mọi sự an khang
Khấn Ông chứng xám hối tha thứ xám hối tha thứ
Làm ăn bán buôn phát xồi đố ngân đố xìn
Đàn cháu con hẩu hẩu leng
Không biết đến Ông, Ông cho cửa nhà đèn đổ
Biết đến Ông, Ông cho hồng vẩn phát xồi a ~!
Yẩu lương cô Yẩu sáp bái sằn
Sấm bi hư ký cô nằm chảy
Anh trăng soi ngàn hoa lá
Cảnh non tiên Quan Bát Ngàn về đây
Tay tiên các cô nàng dâng chúc
Trà hương thơm Quan Bát Ngàn ngợi khen
Đây các cô tiên nàng
ngắm ngợi khen các cô tiên nàng
Đẹp! Đẹp làm sao! Đẹp! Đẹp làm sao!
Muốn khúc cá ngợi Quan
Chim hót líu lo đón mừng xuân đến
Bóng huê đào rực rỡ trên non tiên
Hôm nay các cô tiên nàng vui đón
Mừng hôm nay Quan Bát Hoàng ngự vui
Đây khúc ca trên ngàn
Tra khuynh tươi các cô khuyên mời
Tiệc! Tiệc mừng vui! Tiệc! Tiệc mừng vui!
Muôn khúc ca nên vừa.
Trà liên tử hương thơm ngào ngạt
Đôi bàn tay ngà tươi mát của khách đài trang
Đôi tay tiên che quạt trầm hương
E thẹn chầm ngâm Quan Bát Hoàng
Trè sen rượu cúc kính mời Quan Bát Ngàn sơi cạn
Chùng chà sanh thơm ngát
Các cô nàng kính dâng
Trà sen hương thơm ngạt ngào
Chứng tâm chò đồng nhất tâm
Ngày hôm nay Quan Bát Ngàn loan gía
Sẽ cho được ấm no
Ngàn đời sau cháu con đời đời
Được vẻ vang hạnh phúc muôn đời!
Được vẻ vang hạnh phúc muôn đời!
Ai có về Bắc Mục Hà Giang?
Lào Cai, Yên Bái Quan Bát bước sang thiệt gì
Trên bản rồng choi choi còn ghi
Danh ngầu Bát Quốc cứu nguy sơn hà
Muôn hoa thắm ngát hoa ân tình
Vang thanh bình cả một trời xuân
Bạn tiện chúc ba ly rượu mừng
Quan Bát Ngàn ngất ngây tâm hồn
Trong đêm xuân bao tiên nữ hát ca

Kìa vù khúc chúa xuân hòng hoa
Ngài ngợi khen chén trè sen đậm đà
Thấy Cô Nhất, ba cây đa
Thấy Cô Tứ, cô khuyên mời
Mời Quan Bát Hoàng sơi bát chung trà tàu
Tính tính tình Cô Sáu họa ca
Tính tính tình Cô Bảy họa vui
Còn Cô Bé hát khúc ca thái hòa
Đấng danh tướng ai băng Quan Bát Quốc a~?
Giặc ngoại xâm nghe tiếng chạy dài
Trên thờ vương là tường trung thần
Dưới cai quản ba quân đều hiển hách
Ông đuổi giết quân đi
Oanh liệt nhiếp chư danh
Ghi nhớ người danh tướng
Can chiến công tung hoành
Đời còn ghi công đức Ông phụng thờ
Nhang khói bay đêm ngày tưởng niệm công ơn
Nước ta nhớ nhớ chiến công ấy nhớ chiến công ấy
Ngàn năm khói hương sớm chiều
Phúc danh phúc thần!
Đời nhớ ơn người xưa
Con chúc mừng Quan Bát về đây
Ông phát lộc cho chúng con được nhờ
Thành tâm Ông sẽ chứng cho
Cho đệ tử bán buôn phát xồi
Ông về cho trăm họ được nhờ
Ông về cho trăm họ an vui
Cho cây lộc nở hoa đầy nhà
Người tài đức Ông thời vĩnh chiếu
Người có đức Ông sẽ chứng cho
Lòng thành kính thắp một tuần nhang
Cho đệ tử bán buôn phát xồi
Chúc mừng Quan Bát về đây
Ông phát lộc cho chúng con được nhờ
Thành tâm Ông sẽ chứng cho

Cho đệ tử bán buôn phát xồi
Ông về cho trăm họ được nhờ
Ông về cho trăm họ an vui
Cho cây lộc nở hoa đầy nhà
Người tài đức Ông thời vĩnh chiếu
Người có đức Ông sẽ chứng cho
Lòng thành kính thắp một tuần nhang
Cho đệ tử bán buôn phát xồi.

__________________

ÔNG HOÀNG CHÍN CỜN MÔN

Ngài là con đức Vua Cha, là Quan Hoàng có tính yểu điệu nhất. Về đồng mặc áo dài đen, chân đi guốc, tay cầm ô, mặc kiểu địa chủ thời cổ Việt Nam. Ông về đồng giáng bút, ngâm thơ, uống rượu bằng bát. Gốc tích của ông ít được lưu truyền, tuy nhiên ông có giáng trần, với tài văn chương, thơ phú kinh luân biệt tài. Ồng đăng khoa triều đình lúc tuổi vừa đôi tám. Và Ông cũng là một tướng tài được giao trọng trách thống lĩnh cửa Cờn Môn. Chính vì thế nhân dân còn gọi là Ông Hoàng Chín là Ông Cờn Môn. Sau ông còn là vị quan thanh liêm, cứu dân, giúp nước và luôn trợ người hữu duyên. Ông Chín Cờn cũng ít khi ngự về đồng. Cũng như ông Hoàng Tám Bát Quốc, thường những đồng cựu và sát căn duyên mới bắc ghế hầu ông.

__________________

ÔNG HOÀNG CHÍN THƯỢNG NGÀN

Người miền Nam hay hầu Ông. Ông là người dân tộc trên miền núi đi hái thuốc chữa bệnh cho muôn dân. Bao nhiêu Ông Hoàng về đồng chỉ có Ông Chín Thượng lúc dâng nhang là dùng bản chầu văn của các chúa các chầu dùng để lễ. Như vậy có thể coi Ông Hoàng Chín là vị thánh mang tính chất vùng miền chứ không hẳn nằm trong hệ thống tứ phủ.

__________________

ÔNG HOÀNG MƯỜI NGHỆ AN
Ông Hoàng Mười hay còn gọi là Ông Mười Nghệ An. Ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình, thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời.

Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi là vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh, sau làm đến nguyên thần tam triều Lê gia, phong đến chức Khâm Sai Tiết Chế Thủy Lục Chư Dinh Hộ Vệ Thượng Tướng Quân.

Lại có một dị bản khác cho rằng ông giáng xuống trần là Uy Minh Vương Lí Nhật Quang, con trai Vua Lí Thái Tổ, cai quản châu Nghệ An. Nhưng sự tích được lưu truyền nhiều nhất có lẽ là câu chuyện: Ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời Vua Lê Thái Tổ, có công giúp vua dẹp giặc Minh, sau được giao cho trấn giữ đất Nghệ An, Hà Tĩnh (cũng chính là nơi quê nhà). Tại đây ông luôn một lòng chăm lo đến đời sống của nhân dân, truyện kể rằng có một lần xảy ra cơn cuồng phong làm đổ hết nhà cửa, ông liền sai quân lên rừng đốn gỗ về làm nhà cho dân, rồi mở kho lương cứu tế. Trong một lần đi thuyền trên sông, đến đoạn chân núi Hồng Lĩnh, thì lại có đợt phong ba nổi lên, nhấn chìm thuyền của ông và ông đã hóa ngay trên sông Lam. Trong khi mọi người đang thương tiếc cử hành tang lễ, thì trời quang đãng, nổi áng mây vàng, bỗng thấy thi thể của ông nổi trên mặt nước nhẹ tựa như không, sắc mặt vẫn hồng hào tươi tắn như người đang nằm ngủ, khi vào đến bờ, đột nhiên đất xung quanh ùn ùn bao bọc, che lấy di quan của ông. Lúc đó trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã (có bản nói là xích điểu) và có các thiên binh thiên tướng xuống để rước ông về trời. Sau này khi hiển ứng, ông được giao cho trấn thủ đất Nghệ Tĩnh, ngự trong phủ Nghệ An.

Nhân dân suy tôn ông là Ông Hoàng Mười (hay còn gọi là Ông Mười Củi) không chỉ vì ông là con trai thứ mười của Vua Cha (như một số sách đã nói) mà còn vì ông là người tài đức vẹn toàn, văn võ song toàn (“mười” mang ý nghĩa tròn đầy, viên mãn), không những ông xông pha chinh chiến nơi trận mạc, mà ông còn là người rất hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú văn chương, không chỉ nơi trần thế mà các bạn tiên trên Thiên Giới ai cũng mến phục, các nàng tiên nữ thì thầm thương trộm nhớ. Sau các triều đại đã sắc tặng Ông Mười tất cả là 21 sắc phong (tất cả đều còn lưu giữ trong đền thờ ông).

Cùng với Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười cũng là một trong hai vị Ông Hoàng luôn về ngự đồng, cũng bởi vì ông còn được coi là người được Vua Mẫu giao cho đi chấm lính nhận đồng (khác với Ông Bảy, những người nào mà sát căn Ông Mười thì thường hay hào hoa phong nhã, giỏi thi phú văn chương).

Khi ngự về đồng Ông Mười thường mặc áo vàng (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét vàng, cài chiếc kim lệch màu vàng kim. Ông ngự về tấu hương rồi khai quang, có khi ông múa cờ xông pha chinh chiến, có khi lại lấy quạt làm quyển thư, lấy bút gài đầu để đi bách bộ vịnh phú ngâm thơ, có khi ông lại cầm dải lụa vàng như đang cùng người dân lao động kéo lưới trên sông Lam (quan niệm cho rằng đó cũng là ông kéo tài kéo lộc về cho bản đền) và ông cũng cầm hèo lên ngựa đi chấm đồng như Ông Bảy, người ta cũng thường dâng tờ tiền 10.000đ màu đỏ vàng để làm lá cờ, cài lên đầu ông. Khi ông ngự vui, thường có dâng đọi chè xanh, miếng trầu vàng cau đậu, thuốc lá (là những đặc sản của quê hương ông) rồi cung văn tấu những điệu Hò Xứ Nghệ rất mượt mà êm tai.

Đền thờ Ông Hoàng Mười là Đền Chợ Củi, chính là nơi năm xưa di quan ông trôi về và hóa, qua cây cầu Bến Thủy, bên sông Lam, núi Hồng Lĩnh, thuộc xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (cũng chính là nơi quê nhà của Ông Mười). Cách đó khoảng 6 cây, còn có đền thờ Quan Hoàng Mười, nơi có di mộ của ông rõ ràng, bên cạnh đền. Ngày nay, con nhang, đệ tử của Tứ Phủ, khi đi hành hương viếng lễ, đều đến cả hai đền.

Không biết tự bao giờ dân gian có quan niệm Ông Hoàng Bẩy thì độ thời cho con cái ăn chơi, phong lưu. còn Ông Hoàng Mười độ thời cho con cái lộc làm ăn, buôn bán phát tài. dù quan niệm trên như thế nào nhưng có một sự thực hiển nhiên là hai ngôi đền nổi tiếng anh linh luôn tấp nập người đến lễ bái, nhất là vào tháng 7 và tháng 10.

Ngày ông giáng sinh 10/10 âm lịch được coi là ngày tiệc chính của ông, vào ngày này, du khách thập phương nô nức đến chiêm bái cửa đền ông thật là tấp nập, trải dải đến tận đôi bờ sông Lam, người ta dâng ông: cờ quạt bút sách … để cầu tài cầu lộc cũng là cầu mong cho con em được đỗ đạt khoa cử, thành tài để làm rạng danh tổ tông.

__________________

CÔ NHẤT THƯỢNG THIÊN

Cô Nhất Thượng Thiên. Cô cũng vốn là con Vua Cha dưới Thủy Tề dưới Thoải Cung, được phong là Thiên Cung Công Chúa trên Thiên Đình. Có người nói rằng cô cũng với Cô Chín hầu cận bên cạnh Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên (tức Mẫu Liễu Hạnh) lại có nơi quan niệm cô là Tiên Cô kề cận, tay biên tay chép kề bên Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên (tuy nhiên do có quan niệm là Mẫu Đệ Nhất cũng chính là chầu cho nên hai ý kiến này hầu như là thống nhất với nhau).

Cô giá ngự trong cung tòa, cận bên Mẫu cho nên khi đến các đền phủ người ta thường có lời tấu để cô kêu thay lạy đỡ trước cửa Vua Mẫu Đình Thần Tứ Phủ. Khi thanh nhàn cô cưỡi gió cưỡi mây rong chơi khắp chốn, từ Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa cho đến tận Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Định… Cô là tiên cô thần thông lục trí, cô chấm đồng người nết na thảo hiền rồi đem về tiến Mẫu trong Đền Sòng Sơn. Cô Nhất khá ít khi ngự đồng, chỉ những người sát căn cô mới hay hầu cô hoặc trong các dịp khai đàn mở phủ Cô Nhất về chứng đồng tân lính mới. Khi ngự về Cô Nhất mặc áo màu đỏ (áo gấm hoặc áo lụa thêu phượng), đầu đội khăn đóng (khăn vành dây), thắt khăn và vỉ lét đỏ. Cô làm lễ khai cuông rồi múa quạt.

Cô Nhất thường được thờ vào ban Tứ Phủ Thánh Cô ở trong các bản đền. Cũng có một số người nói rằng có đền cô là Đền Cô Nhất ở trong đất Nghệ An giáp Thanh Hóa với món đặc sản bánh ngào.

__________________

CÔ ĐÔI THƯỢNG NGÀN
Cô Đôi Thượng Ngàn. Cô vốn là con Vua Đế Thích trên Thiên Cung, được phong là Sơn Tinh Công Chúa, ra vào hầu cận bơ tòa Vua Mẫu trong điện ngọc, nơi tiên cảnh. Sau cô giáng sinh xuống đất Ninh Bình làm con gái nhà một chúa đất ở chốn sơn lâm, khi hạ sinh, Cô Đôi rất xinh đẹp: da trắng, tóc xanh mượt mà, mặt tròn, lưng ong thon thả. Sau này cô quyết chí đi theo hầu Đức Diệu Tín Thuyền Sư Lê Mại Đại Vương (chính là Mẫu Thượng Ngàn, Bà Chúa Sơn Trang) học đạo phép để giúp dân. Rồi khi về thiên, cô được theo hầu cận ngay bên cạnh Mẫu Thượng Ngàn Đông Cuông Tuần Quán được Mẫu Bà truyền cho vạn phép, giao cho cô dạy người rừng biết thống nhất về ngôn ngữ (nên có khi còn gọi là Cô Đôi Đông Cuông), cũng có người cho rằng cô về theo hầu cận Chầu Đệ Nhị. Lúc thanh nhàn cô về ngự cảnh sơn lâm núi rừng ở đất Ninh Bình quê nhà, trong ba gian đền mát, cô cùng các bạn tiên nàng ca hát vui thú tháng ngày trên sườn dốc Bò, có khi cô biến hiện ra người thiếu nữ xinh đẹp, luận đàm văn thơ cùng các bậc danh sĩ, tương truyền cô cũng rất giỏi văn thơ, làm biết bao kẻ phải mến phục. Cô Đôi cũng là tiên cô cai quản kho lộc Sơn Lâm Sơn Trang, người trần gian ai nhất tâm thì thường được Cô Đôi ban thưởng, nhược bằng có nợ mà không mau trả lễ cô lại bắt đền nặng hơn. Cô Đôi Thượng rất hay ngự về đồng, vì danh tiếng cô lừng lẫy ai ai cũng biết đến, đệ tử cô đông vô số và cô cũng hay bắt đồng. Trong đại lễ khai đàn mở phủ người ta thường dâng lễ vàng cây lên 5 tiên cô là Cô Đôi, Cô Bơ, Cô Sáu, Cô Chín và Cô Bé, trong đó Cô Đôi thường là giá cô ngự về đầu tiên (mở khăn cho hàng cô) để chứng lễ. Khi cô về ngự thường mặc áo lá xanh hoặc quầy đen và áo xanh (ngắn đến hông), trên đầu có dùng khăn (khăn von hoặc khăn vấn) kết thành hình đóa hoa, cũng có một số nơi dâng cô áo xanh, đội khăn đóng (khăn vành dây) và thắt lét xanh, hai bên có cài hai đóa hoa. Cô về đồng thường khai cuông rồi múa mồi, múa tay tiên hái tài hái lộc cho đồng tử. Vì Cô Đôi Thượng hầu cận bên Mẫu Đông Cuông nên đền cô cũng được lập gần Đền Đông Cuông, trong đền thờ Cô Đôi và Cô Bé Đông Cuông, cách đền chính khoảng 500m, trước cửa đền có giếng nước quanh năm trong mát. Nhưng chính đền của cô lại là Đền Cô Đôi Thượng Ngàn tại xã Nho Quan, Ninh Bình (qua rừng quốc gia Cúc Phương) thuộc làng Bồng Lai

__________________

CÔ BƠ THOẢI ( CÔ BƠ BÔNG)

Cô Bơ Thoải Cung. Cô vốn là con Thủy Tề ở dưới Thoải Cung, được phong là Thoải Cung Công Chúa, giá ngự vào ra trong Cung Quảng Hàn. Có người còn nói rằng, Cô Bơ là con gái vua Long Vương rất xinh đẹp nết na nên được Đức Vương Mẫu (có người cho rằng đó là Mẫu Cửu Trùng Thiên) cho theo hầu cận, chầu chực trong cung cấm. Sau này Cô Bơ Thoải giáng sinh vào thời Lê Trung Hưng, tương truyền sự tích như sau: Đức Thái Bà nằm mộng thấy có người con gái xinh đẹp, dáng ngọc thướt tha, tóc mượt mắt sáng, má hồng, môi đỏ, cổ cao ba ngấn, mặc áo trắng đến trước sập nằm dâng lên người một viên minh châu rồi nói rằng mình vốn là Thủy Cung Tiên Nữ, nay vâng lệnh cao minh lên phàm trần đầu thai vào nhà đó, sau này để giúp vua giúp nước, thì Thái Bà thụ thai. Đến ngày 8/2 thì bỗng trên trời mây xanh uốn lượn, nơi Thủy Cung nhã nhạc vang lên, đúng lúc đó, Thái Bà hạ sinh ra được một người con gái, xem ra thì nhan sắc mười phần đúng như trước kia đã thấy chiêm bao. Thấy sự lạ kì vậy nên bà chắc hẳn con mình là bậc thần nữ giáng hạ, sau này sẽ ra tay phù đời nên hết lòng nuôi nấng dạy dỗ bảo ban. Cô lớn lên trở thành người thiếu nữ xinh đẹp, tưởng như ví với các bậc tài nữ từ ngàn xưa, lại giỏi văn thơ đàn hát. Đến khi cô vừa độ trăng tròn thì cũng là lúc nước nhà phải chịu ách đô hộ của giặc Minh, cô cùng thân mẫu lánh vào phía sâu vùng Hà Trung Thanh Hóa, nơi ngã ba bến Đò Lèn, Phong Mục. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, cô đã có công giúp vua Lê trong những năm đầu kháng chiến (và có nơi còn nói rằng cô cũng hiển ứng giúp nhà Lê trong công cuộc “Phù Lê Dẹp Mạc” sau này). Trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại câu chuyện sau: Vào những năm đầu khởi nghĩa, quân ta (ý nói nghĩa quân do vua Lê Lợi chỉ huy) vẫn còn yếu về lực lượng, thường xuyên bị địch truy đuổi, một lần Lê Lợi (có sách nói là Lê Lai) bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp Cô Bơ đang tỉa ngô liền xin cô giúp đỡ, cô bảo người lấy quần áo nông dân mặc vào, còn áo bào thì đem vùi xuống dưới ruộng ngô rồi cũng cô xuống ruộng giả như đang tỉa ngô. Vừa lúc đó thì quân giặc kéo đến, chúng hỏi cô có thấy ai chạy qua đo không thì cô bảo rằng chỉ có cô và anh trai (do Lê Lợi đóng giả) đang tỉa ngô, thấy vậy quân giặc bỏ đi. Lê Lợi rất biết ơn cô, hẹn ngày sau đại thắng khải hoàn sẽ rước cô về Triều Đình phong công và phong cô làm phi tử. Sau đó cô cũng không quản gian nguy, bí mật chèo thuyền trên ngã ba sông, chở quân sĩ qua sông, có khi là chở cả quân nhu quân lương. Có thể nói trong kháng chiến chống Minh thì công lao của cô là không nhỏ. Đến ngày khúc hát khải hoàn cất lên thì vua Lê mới nhớ đến người thiếu nữ năm xưa ở đất Hà Trung, liền sai quân đến đón, nhưng đến nơi thì cô đã thác tự bao giờ, còn nghe các bô lão kể lại là ngày qua ngày cô đã một lòng đợi chờ, không chịu kết duyên cùng ai, cho đến khi thác hóa vẫn một lòng kiên trinh. Người ta cho rằng, Cô Bơ được lệnh Vua Cha giáng trần để giúp vua, đến chí kì mãn hạn thì có xe loan lên đón rước cô về Thủy Cung. Sau đó cô hiển linh giúp dân chúng ở vùng ngã ba sông, độ cho thuyền bè qua lại được thuận buồm xuôi gió vậy nên cô còn có danh hiệu là Cô Bơ Bông (do tích cô giáng ở ngã ba sông) hay Cô Bơ Thác Hàn (theo tên gọi ở nơi quê nhà). Ai hữu sự đến kêu van cửa cô đều được như ý nên danh tiếng cô vang lừng khắp nơi nơi Cô Bơ luôn giá ngự về đồng, già trẻ, từ đồng tân đến đồng cựu, hầu như ai cũng hầu về Cô Bơ Bông. Khi cô giáng vào ai, dù già hay trẻ thì sắc mặt đều trở nên hồng hào tươi tốt, đẹp đẽ lạ thường. Khi cô ngự đồng, cô thường mặc áo trắng, đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) có thắt lét trắng (có khi dùng thắt dải lưng hồng) rồi cô cầm đôi mái chèo, bẻ lái dạo chơi khắp nơi. Lúc chèo thuyền có khi có còn khoác thêm chiếc áo choàng trắng, trên khăn có cài ba nén hương, bên hông có dắt tiền đò, rồi khi chèo thuyền xong, cô lại cầm dải lụa để đi đo gió đo nước đo mây. Lúc cô an tọa người ta thường xin cô thuốc để trị bệnh, vậy nên Cô Bơ ngự về thường hay làm phép “thần phù” để ban thuốc chữa bệnh. Vì theo quan niệm nguyên xưa Cô Bơ Bông hầu cận Mẫu Thoải, lại theo sự tích nơi quê nhà cô là ở đất Hà Trung, Thanh Hóa, ngã ba Bông bến đò Lèn nên đền cô được lập ở đó, gần đền Mẫu Thác Hàn (chính là Mẫu Thoải), gọi tên là Đền Cô Bơ Bông thuộc xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trước đây đường đi vào rất khó khăn, nhưng hiện giờ đã được tu sửa nên giao thông đã dễ dàng hơn. Đền cô là nơi thắng cảnh “trên bến dưới thuyền”, nơi giao của Ngũ huyện kê: “Một tiếng gà gáy năm huyện đều nghe” cũng với danh tiếng anh linh của tiên cô nên khách thập phương đến chiêm bái, cầu xin nhân duyên, khoa cử, làm ăn rất đông đúc. Thuyền bè dưới bến sông qua lại đều phải đốt vàng mã kêu cô, rồi những người đến kêu cầu đều dâng cô nón trắng hài cườm, võng lụa thuyền rồng.

__________________

Cô Tư Ỷ La

Có người nói cô Tư là Tiên Nữ theo hầu Chầu Đệ Tứ Khâm Sai nhưng theo tài liệu cổ chính xác nhất thì cô Tư theo hầu Mẫu Thượng, cô xinh đẹp dịu dàng, được Mẫu hết mực yêu quý, khi thanh nhàn cô thường dạo chơi cảnh Tây Hồ với chiếc áo lụa vàng tha thướt thêu hoa cỏ. Cô được thờ trên đền Ỷ La, Tuyên Quang. Cô hiếm khi ngự đồng.

__________________

CÔ NĂM SUỐI LÂN

Cô Năm Suối Lân vốn là tiên nữ trên trời, theo lệnh cô giáng trần là người thiếu nữ dân tộc Nùng ở xứ Lạng. Có tích lại kể rằng Cô Năm là người thị nữ thân cận bên Chầu Năm Suối Lân ( lúc sinh thời khi chầu còn là công chúa) nên cô cũng được tôn hiệu là Cô Năm Suối Lân hay Cô Năm Sông Hoá. Sau này được sắc phong hiển thánh, Cô Năm vẫn được coi là tiên cô kề cận bên cửa Chầu Năm.

cô được coi là tiên cô trông giữ bản đền Suối Lân. Ngoài ra cô còn được coi là vị thánh trấn tại cửa rừng Suối Lân (cung rừng này một cửa vào là cửa Suối Lân do Cô Năm Suối Lân trấn giữ, cửa ra là cửa Thất Khê do Cô Bé Đèo Kẻng trấn giữ), vậy nên, ai đi chiêm bái trên đất Lạng đều phải qua bái yết cửa Chầu Năm và Cô Năm Suối Lân. Dòng Suối Lân do Cô Năm cai quản bốn mùa trong xanh, nước thông về sông Hoá, tương truyền rằng đây là dòng suối thiêng của cô, nước suối xanh mát bốn mùa không bao giờ cạn, nếu ai có bệnh tật đến xin nước suối cửa cô, uống vào sẽ thuyên giảm, nhược bằng, người nào không biết mà xuống suối tắm hay rửa chân tay, làm ô uế dòng suối của cô sẽ bị cô hành cho sốt nóng mê sảng. Phép anh linh của Cô Năm Suối Lân còn được biết qua việc nếu có kẻ nào báng nhạo cô sẽ “xát lá han” làm cho kẻ đó luôn ngứa ngáy không yên, rồi cô cho đi lạc đường rừng.

Trong hàng thánh cô, thường thấy Cô Năm Suối Lân ít khi ngự đồng hơn Cô Sáu Lục Cung, thường chỉ người nào có sát căn quả về cửa Cô Năm hoặc khi về đền Suối Lân thì có thấy thỉnh bóng Cô Năm ngự đồng. Khi hầu về giá Cô Năm Suối Lân, thường người ta mặc xiêm y như màu áo của Chầu Năm (nhưng là áo ngắn vạt), đó có thể là màu xanh thiên thanh hoặc xanh lá cây, cô chít khăn củ ấu, bên mình có túi vóc, dao quai. Ngự đồng cô khai cuông rồi múa mồi. Hiện nay Cô Năm Suối Lân được phụng thờ là thánh cô trấn giữ cửa Suối Lân Sông Hoá, cung thờ cô được đặt cạnh ngay đền chính của cửa Chầu Năm Suối Lân (huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn).

__________________

CÔ SÁU SƠN TRANG
Cô là Tiên Nàng hầu cận sát bên Mẫu Thượng Trang Châu, cũng có nơi nói cô là người kề cận Chầu Lục Cung Nương và gọi cô là Cô Sáu Lục Cung, nhưng mọi tài liệu đêù thống nhất cô Sáu là người có tài bốc thuốc cứu người, khi cô lên ngàn hái thuốc thì cầm thú reo ca, voi quỳ hổ phục bên đường cô đi, cô rất khôn ngoan nhưng cũng rất đành hanh, cô đặc biệt ghét người ăn nói quanh co, ăn không nói có. Khi giáng đồng cô mặc quả áo lam ngắn vạt dài tay, chít khăn xanh, trâm cài lược dắt, tay cầm bó mồi .

Cô cũng vốn là thánh cô nguyên tích là người Nùng ở đất Hữu Lũng, Lạng Sơn. Có thuyết thì nói rằng Cô Sáu là tiên cô kề cận bên cửa Chúa Thượng Ngàn ở đất Trang Châu (chưa xác định rõ), còn lại đa phần đều thống nhất rằng Cô Sáu là người kề cận Chầu Lục Cung Nương nên cô mới được gọi là Cô Sáu Lục Cung hay còn có danh khác là Cô Sáu Sơn Trang. Khi nhân dân lập đền thờ phụng Chầu Bà, vẫn thỉnh Cô Sáu là cô trấn bản đền Lục Cung. Ngoài ra, theo một số tích cũ kể lại, Cô Sáu Lục Cung sinh thời là người con gái xinh đẹp nết na, lại có tài chữa bệnh, cô thường đi khắp rừng sâu núi thẳm để hái thuốc cứu người vậy nên khi hiển thánh, Cô Sáu vẫn thường được muôn dân tôn là tiên cô có tài chữa bệnh cứu người, dân chúng khắp nơi về cửa cô để xin thuốc tiên trị bệnh. Cô Sáu Sơn Trang cũng nổi tiếng đành hanh trên đời, nghiêm khắc trừng trị kẻ nào nhạo báng cửa cô.

Trong hàng Tứ Phủ Thánh Cô, Cô Sáu Lục Cung rất hay về ngự đồng. Các thanh đồng đạo quan thường thỉnh bóng Cô Sáu Sơn Trang ngự đồng không chỉ có khi về đền Lục Cung, về đất Lạng Sơn mà cả khi khai đàn mở phủ hay trong cả những dịp hầu vui, đón tiệc tiên thánh. Cô Sáu ngự đồng thường mặc áo lam hoặc áo tím chàm (ngắn vạt rộng tay). Cô ngự đồng khai cuông rồi múa mồi như các tiên cô trên Thượng Ngàn khác. Hiện nay Cô Sáu Lục Cung chính là thánh cô trấn giữ bản đền Lục Cung Chín Tư, cung thờ cô được xây ngay cạnh chính cung đền Chầu Lục Cung Nương (Chín Tư, Hữu Lũng, Lạng Sơn).

__________________

CÔ BẨY KIM GIAO ( CÔ BẨY TÂN LA)

Cô Bảy Kim Giao. Cô vốn cũng là một tiên cô người dân tộc Mọi ở đấy Kim Giao, Mỏ Bạch, Thái Nguyên. Theo một số tích nói rằng cô cũng là người kề cận bên Chầu Bảy nên cũng được gọi là Cô Bảy Kim Giao hay còn có hiệu khác là Cô Bảy Tân La ( khi cô được theo hầu cận Chầu Bảy tại đền Tân La).

Tương truyền rằng cô cũng là vị thánh cô có công giúp người dân Mọi biết trồng trọt chăn nuôi rồi cô cũng có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc. Vậy theo một số tài liệu thì chính xác Cô Bảy là Cô Bảy Kim Giao hay Cô Bảy Tân La (theo hầu Chầu Bảy Kim Giao) chứ không phải là Cô Bảy Tân An (theo hầu Ông Bảy Bảo Hà ) như một số người vẫn nói. Còn có sự tích nói rằng, đêm đêm cô thường hội họp cùng các bạn tiên nàng, mắc võng đào giữa hai cây kim giao rồi cùng đàn hát.

Trong hội đồng Thánh Cô, Cô Bảy Kim Giao là một trong số các cô ít khi ngự đồng nếu không nói là hầu như không thấy. Vậy nên nếu để nói đến y phục và cung cách hầu giá Cô Bảy là rất khó, theo phỏng đoán của người viết thì có thể giá Cô Bảy Kim Giao mặc áo tím hoặc chàm xanh, cô ngự đồng khai cuông rồi múa mồi. Hiện nay, Cô Bảy vẫn được thờ làm cô bản đền tại chính cung Đền Kim Giao (Thanh Liên, Mỏ Bạch, Thái Nguyên) và còn cả tại đền Tân La ( Dốc Lã, Bảo Khê, Hưng Yên). Khi hầu tráng mạn đến giá Cô Bảy Kim Giao, văn thường hát rằng:

“Thỉnh mời Cô Bảy Kim Giao
Đêm đêm cô mắc võng đào hòa ca
Đền thờ rừng núi bao xa
Đầu non thác đổ xa xa hổ gầm…”
Hay khi nói đến tích cô được thờ tại Tân La cũng có văn rằng:
“Thỉnh mời Cô Bảy Tiên La
Đêm ngày hầu cận bơ tòa Mẫu Vương…”

__________________

Còn cô Tám đồi chè, cô chín sòng sơn, cô mười Đồng Mỏ, cô bé Bắc Lệ, và hàng cậu nữa nhé, ngoài ra còn quan thanh xà, bạch xà, ngũ hổ….. bạn cho mọi người cùng được biết nhé

digg delicious stumbleupon technorati Google live facebook Sphinn Mixx newsvine reddit yahoomyweb