NGHI THỨC LỄ TANG

Cha mẹ lâm chung

Theo”Những phong tục tập quán của người Việt Nam”.Lúc cha mẹ yếu gần mất “hấp hối” phải thay chỗ người nằm rước người lên nhà chính tẩm (nhà thờ) để đầu về đằng đông tỏ ra người “đắc kỳ tử” bảo cả nhà đều im không được nhộn nhạo, rồi sẽ hỏi người có dặn gì không …hễ người  nói gì thì biên lấy đặt tên hiệu cho người đàn ông thời đặt những chữ Trung chữ Trực đàn bà thời đặt những chữ Trinh chữ Thuận phải bảo rõ cho người biết, mặc áo mới cho người rồi lấy miếng bông để ngoài lỗ mũi người. Xem có còn hơi thở không nếu không thấy bông chuyển động nữa thì người đã tắt hơi rồi “tuyệt khí” bấy giờ lấy chiếc đũa ngáng vào miệng người để phạn hàm rồi giải chiếu xuống đất sẽ đặt người nằm xuống độ vài phút hấp lấy sinh khí đất hoạ may hồi chăng lại nâng người đặt lên giường bấy giờ mới chiêu hồn để hồn phách về nhập vào thân cũ.

Lúc chiêu hồn thì con giai trưởng hay con thứ cầm khăn hay áo người mất mặc thường leo lên mái nhà đằng trước mà đứng, tay tả cầm tà áo, tay hữu cầm xống áo, gọi tên họ người 3 lần thật to. Tục thường gọi rằng: Hú ba hồn bẩy vía. (Đàn bà chín vía) ông, “bà” … ở đâu về mà nhập thân cụ, Ô hô … Rồi cuộn áo lại đi xuống mái sau cầm áo ấy đắp lên mình người bấy giờ con giai con gái đều sổ tóc khoà oà lên cả.

Tết hồn bạch

Khi người còn thoi thóp thì lấy lụa hoặc vải trắng dài độ bẩy thước phủ lên mặt và ngực người lúc người tắt nghỉ rồi thì lấy lụa hoặc vải ấy mà tết hồn bạch. …

Hồn bạch tết như hình người một đầu hai tay và hai chân để lên mình người bao giờ nhập quan thì đặt hồn bạch lên giường mà thờ, nhà giầu có đặt linh sàng linh toạ ngày hai buổi sớm tối rước ra rước vào cúng tế bằng nhà nghèo thời trước hồn bạch thờ ảnh cũng được.

Lập người tang chủ

Khi người mất đi con giai trưởng người làm chủ tang, nếu chẳng may con trường mất rồi thì các cháu đích tôn người gọi là cháu thừa trọng làm chủ tang…

Lập chủ phụ thì cắt vợ người chủ tang làm chủ phụ. Nếu cha còn sống mẹ mất hay vợ con của người con chẳng may mất đi thì cha đứng làm chủ tang, thế là lễ phải theo cha ông “Lễ thống vu tôn”.

Lập người hộ tang

Khi cha mẹ mất phải nhờ người bạn thân tình hay người họ hàng thân thích nào nhiều tuổi đã từng trải về việc lễ đám người hộ tang để huấn thị lễ nghi…phàm mọi việc tang gia đều nghe theo người tang chỉ bảo, lại chọn 2 người nữa giúp việc, một người tư thư, một người tư hoá, người tư hoá giữ chi tiêu.

Trị quan tài

Trị quan tài sắp đủ các đồ dùng sau này. Sơn sống mại cửa để đập mạch, vôi tả và do đổ vào trong dầy độ 4 tấc ta, trên dải mấy lượt giấy rồi đặt thất – tinh – bản “ván” lên. …

Ván thất tinh là miếng gỗ mỏng vừa lọt vào trong quan đục ra 7 lỗ tượng cho 7 ngôi sao Bắc đẩu cách đục thất tinh ngôi “lỗ” thứ nhất, ngôi thứ năm và ngôi thứ bẩy đục thẳng hàng với nhau như cái dây đặt thẳng, còn ngôi thức ba thì đục riêng ra một nơi ngôi thứ 4 và thứ 6 cũng đục chếch mỗi ngôi xa nhau một ít, không nên đục thẳng hàng dòm nhau mà độc.

Cáo phó

Người tư thưa viết giấy cáo phó báo cáo các thân bằng cố hữu của người mất biết là mất ngày nào tháng nào và định đến hôm nào rước linh cữu táng tại đâu, giấy cáo phó đại khái như sau này: …

CÁO PHÓ

Gia đình chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin đến thân bằng quyến thuộc và bằng hữu

Ông NGUYỄN VĂN THI

Pháp Danh: NGUYÊN LẠC

Sinh ngày 10 tháng 01 năm 1950 tại Nam Định

Giáo sư các trường trung học: Bạc Liêu ( TX Bạc Liêu). Đồng Tiến, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Lê Minh Xuân, Diên Hồng, Nguyễn Khuyến, Trần Hữu Trang ( Sài Gòn) từ năm 1972 đến 2005.

Đã Thất Lộc lúc 06h00( giờ USA) tức 20h00( giờ VN) ngày 09 tháng 07 năm 2007, nhằm ngày 25 tháng 05 năm Đinh Hợi tại bệnh viện Fountain Valley, CA, USA

Hưởng Dương 58 tuổi

Linh Cữu Quàn Tại số 31 Ông Ích Khiêm

Phường 10, Quận 11, TP.HCM, Việt Nam

ĐT: ( 08) 9633739 – 9624604 – 2150414

Chương trình LỄ TANG

THỨ HAI, ngày 16-07-2007

Từ 12 giờ đến 21 giờ: Lễ Phát Tang, Cầu siêu và thăm viếng.

THỨ BA, ngày 17-07-2007 đến THỨ NĂM, ngày 19 – 07-2007

Từ 08 giờ đến 21 giờ: Lễ cầu siêu và thăm viếng.

THỨ SÁU, ngày 20-07-2007

Lễ Động Quan lúc 06 giờ sáng.

Nơi An Nghỉ: Nghĩa Trang ĐA PHƯỚC

TANG GIA ĐỒNG KHẤP BÁO

Nhạc Phụ Mẫu: Ông Bà NGUYỄN HỮU DIỂN

Vợ: Bà Quả Phụ: NGUYỄN VĂN THI, Nhũ Danh NGUYỄN THỊ KIM TẠC (VN)

Trưởng Nam: NGUYỄN SĨ TUẤN, Vợ và con ( VN)

Thứ Nam: NGUYỄN ĐỨC THẮNG, Vợ và con ( VN)

Anh ruột: NGUYỄN ĐÌNH NGUYÊN, Vợ và các con, các cháu ( USA)

Chị ruột: Bà Quả Phụ VŨ TOÀN, Nhũ Danh NGUYỄN THỊ KHƠI và các con, các cháu ( VN)

Em ruột: NGUYỄN HỒNG ĐỨC, Vợ và các con ( VN)

Em vợ: NGUYỄN HỮU ĐIỆN, Vợ và các con ( USA)

Em vợ: NGUYỄN THỊ KIM OANH, Chồng bà các con ( USA)

Em vợ: NGUYỄN NGỌC LÂM, Vợ và các con( USA)

Em vợ: NGUYỄN THỊ KIM TRÂM, Chồng và các con ( USA)

Em vợ: NGUYỄN HỮU SƠN,Vợ và các con ( USA)

CÁO PHÓ NÀY THAY THẾ CHO THIỆP TANG

Mộc dục

Người mất rồi trước khi nhập quan phải tắm gội đã, mà tắm gội phải sắp các đồ dùng cho đủ như sau này: một con dao con, một khăn bông mới, một cái lược thưa và 1 cái gáo múc nước, phải bắc bếp bằng hoả lò mới cho sạch…phải nấu 1 nồi (nồi mới) nước ngũ vị hương cho thơm dùng 1 cái nồi mới nữa để chứa nước tắm thưa vào đấy xong rồi quây màn cho kín bấy giờ người tang chủ quỳ xuống khóc mà khấn rằng:

Nay xin tắm rửa sạch bụi trần, cẩn cáo

Tư thỉnh mộc dục, dĩ điều cực trần cản cáo

Lễ một lễ rồi đứng ngay lên nếu người mất là cha thì con giai tắm, là mẹ thì con gái tắm, lúc tắm thì lấy khăn bông thấm vào nước ngũ vị lau mặt cho người sạch, lấy lược trải tóc người cho sóng, lấy khăn lụa chít khăn người cho ngay ngắn rồi lại lấy khăn bông thấm nước ngũ vị lại hai tay và hai chân cho người, kế lất con dao con cắt móng tay móng chân cho người xong đâu đấy rồi mới mặc quần áo cho tề chỉnh hễ tóc rụng ra thì nhặt lấy, móng tay móng chân người rơi ra thì lấy giấy phong lại, tóc thì để lên đầu, mà móng tay và móng chân bên nào thì để bên ấy, cũng để vào thọ đường con dao, lược khăn bông và nước tắm rồi đem ra nơi đất sạch mà hạ thổ, rồi rước người lên long sàng, quây màn kín lại. Năm vị hương là những thứ này: Bạch đàn, tùng diệp, quất diệp, đỗ diệp.

Phạm hàm

Phạm hàm là lúc bỏ tiền, gạo vào mồm lấy một dúm gạo nếp sát cho trắng, ba đồng tiền dán mài cho sáng, nhà giầu có lấy ba hạt vàng sống (kim sinh) chín hạt trai (bang châu) càng hay tang chủ …vào, người bà con giúp việc cùng vào tang chủ quỳ xuống khấn rằng:

Nay xin phạm hàm xin người nhận lấy cẩn cáo

(Tư thỉnh phạm hàm phục duy hàm nạp cẩn cáo)

Rồi lễ một lễ đứng ngay lên, rồi tang chủ sang bên hữu sẽ mở tờ giấy đậy mặt một ít chỗ miệng người để hé răng ra, người trấp sự xướng:

Sơ phạm hàm.

Tang chủ lấy cái thìa xúc một ít gạo nếp rồi một đồng tiền hay một hạt vàng sống tra vào bên hữu miệng, người Trấp sự lại xướng.

Tái phạm hàm.

Tang chủ lại xúc gạo và tiền như trước, tra vào bên tả miệng người, trấp sự lại xướng;
Tam phạm hàm.

Tang chủ lại xúc tiền gạo như trước, tra vào giữa miệng người xong rồi nắn hàm người lại cho kín đậy mặt người lại như trước bấy giờ cả nhà đều khóc liên thanh.

Khâm liệm

Người mất rồi thì sắp đồ khâm liệm lúc khâm thì đội khăn (chữ gọi bức cân) cho người trước để gối vào, lấy lụa hoặc bông nút hai lỗ tai (chữ gọi sung nhì) rồi lấy hai miếng lụa trong đỏ ngoài mùi huyền mỗi miếng đều một thước hai tấc tá…giữa giải ít bông khâu giáp lại, bốn góc khâu giải đậy lên mặt người rồi buộc ra đằng sau cho chặt (chữ gọi lại khấn minh dục).

Kế lấy giấy gấp vuông thật dầy để vào lòng bàn tay lấy giải vải buộc chặt lại, chớ để co ngón tay người lại rồi lồng bao tay bao chân mặc quần áo cho người lúc bình sinh, mặc áo thì mặc áo đơn, chớ nên mặc áo kép, mặc lẻ chớ mặc chẵn đôi, khép vạt cả vào trước, vạt con vào sau lấy vải lụa hoặc lụa làm đai – đái (đai lưng) để hai tay ấp vào hai bên đùi người cho thẳng, rồi thắng ngang lại cho chặt.

Đại liệm tiểu liệm

Tiểu liệm đại liệm làm bằng vải hay bằng lụa, tiểu liệm đọc dài mười bốn thước ta, ngang ba đoạn mỗi đoạn sáu thước, ta dọc ngang hai bề đều xé mướn làm ba đề phòng lúc buộc….

Đại liệm thì đọc cũng thế, nhưng ngang năm đoạn mỗi đoạn nửa khổ mà không xé đầu.

Tiểu liệm một khâm, đạo liệm một khâm, mỗi chíc khâm 5 khổ và khâu giáp đường sống dài 12 thước ta. Tạ quan lót dưới áo quan thì tám khổ ngang dọc như nhau, đặt ngay can lại, chớ làm bốn khổ can dọc, e khi vội vàng khâu không kỹ mà buột chăng.

Lúc khâm liệm sắp đủ 2 tấm áp nhĩ, hai tấm lót đầu và giấy hổ khuyết (vá vào chỗ thiếu) rồi giải chiếu giữa gian nhà đặt đồ đại liệm xuống trước, bầy năm cái ngang ra đo từ đầu xuống chân chia cho đều khoảng, sau dài cái dọc lên trển rồi dải đại liệm khâm đè lên ngay cái dọc ấy hễ giải lần nào lấy bút đánh dấu cho ngay giữa rồi khâu lại cho chặt, sẽ đặt đồ tiểu liệm đè lên, đặt ba cái ngang rồi đến cái dọc rồi đến cái khâm tiểu liệm cả hai thứ đại liệm tiểu liệm khâu làm một rồi bốn bên đều cuốn lại đặt lên giường, bấy giờ tang chủ cử ai quỳ xuống trấp sự cũng quỳ xuống khấn rằng:

Xin người nhập liệm cẩn cáo

(Thỉnh nghênh nhập liệm cẩn cáo)

Lễ một lễ đứng ngay lên, bấy giờ những người hộ việc rước người ra chỗ đồ khâm liệm, đặt cho ngay, rồi gối đầu đến hai tấm áp nhĩ rồi đặt các tấm liếp lót trên đầu dưới chân, rồi đến giấy bổ khuyết đệm vào cho thật vuông.

Đoạn rồi gập 2 bên chân tiểu liệm lại bên tả trước bên hữu sau rồi gấp đầu trước chăn lên, đầu trên chăn xuống rồi buộc đai dọc đai ngang lại.

Tiểu liệm xong rồi cứ từng lần lượt buộc, đồ đại liệm cũng thế. Liệm xong dải lót quan “tạ quan” đặt người vào cho đúng giữa bấy giờ con cháu sổ tóc đến ngày thành phục mới thôi.

Đồ bổ khuyết

Đồ bổ khuyết thì độn giấy hay là độn bấc 1. Trẩm (gối đầu) một phiến ngang 4 tấc dài sáu tấc năm phân, dầy một tấc trên mặt để tròn một chỗ dày độ 5 phân. 2. Phủ mặt một phiến cũng bằng phiến trẩm dày một tấc. …3. Áp nhĩ hai phiến, dài sáu tấc năm phân, dày hai tấc năm phân, cao năm tấc. 4. Lót đàu lót chân hai phiến dầy một tấc, cao năm tấc, đầu ngang chín tấc, chân ngang chín tấc, chân ngang tám tấc năm phân. 5. Đậy rốn một phiến dài một thước ba tấc, dầu trên khoái sáu tấc dầy năm phân đầu dưới khoái bốn tấc dày ba tấc năm phân.

Nhập quan

Lúc nhập quan thì con cháu sắp hàng quỳ trước mà khóc những người giúp việc với người tang chủ cũng quỳ đằng trước, rồi người tang chủ khấn rằng: “Nay được giờ tốt xin người nhập quan cẩn cáo” “Tư dĩ cát thời thỉnh nghênh nhập quan cẩn cáo”. …

Người chủ tang lễ một lễ rồi đứng ngay lên lũ bấy giờ cứ con giai tay trái con gái tay phải đứng ra hai bên, những người bà con giúp việc đều xúm nhau vào cầm lấy tạ quan nâng người lên rồi rước người vào quan tài êm ái, con cháu đều khóc lên bấy giờ những người bà con xem kỹ trong quan có chỗ nào còn hở hay còn lỏng, thì têm giấy hay áo cũ của người độn thêm vào cho đày, rồi gập đầu dưới tạ quan lên, gập đầu trên tạ quan xuống, bên tả khép vào bên tả, bên hữu khép vào bên hữu, rồi đậy nắp gắn sơn đóng đinh lại cho kín rồi rước quan vào gian giữa , đầu về hước Nam (phía ngoài là Nam trong là Bắc) rồi bó mạch cho kỹ, chớ nên để cho đến hôm sau.

Bấy giờ giải đơn hai bên gần linh cữu, con giai một đằng con gai một đằng không được ngồi hay nằm chung, từ đấy các con phải gối đầu nằm rơm, chầu chực khuy sớm không được rời chân.

Đặt linh sàng linh toạ

Nhập quan xong rồi, nhà rộng rãi thì đặt linh sàng ở phía Đông linh cữu, như người còn sống để rước ra rước vào, nếu chật hẹp không tiện thì đặt linh toạ ở trước cữu để hồn bạch vào ỷ…không có thì bày hài vị giấy hoặc ỷ không hay ảnh thờ cũng được.

Ngoài án thì bày các đồ thờ vong, đồ sơn cũng được, duy cái quán tẩy thì trắng, rồi chiếu nghỉ tiết tả cáo văn làm lễ yên vị.

Lối làm văn tế

Người mất con để trong nhà, cha thì viết:

“Cố phu trần – quý công huý …. hiệu … phủ Quân”

Mẹ thì viết:

“Cố mẫu Trần môn chính thất Nguyễn Thị Hang …. huý hiệu … nhu nhân”.

Khi chôn rồi (thành phần) cha thì viết hay khấn (hiển khảo …) mẹ thì viết hay khấn là (hiển tỷ …) nếu cha mất mẹ còn thì xưng là cô tử, mẹ mất cha còn thì mình là ai tử, cha mẹ mất cả rồi thì xưng mình là cô ai tử.

Nếu cha mất mẹ còn thì khấn rằng:

Ai tử mỗ đảng cung thừa phu mịnh không nên sưn họ tên cha.

Néu chồng tế vợ thì xưng là ái phu mỗ tính danh cùng với các ai tử tên mỗ … tên mỗ … chồng đứng trên con đứng dưới mà lễ, còn những người dưới cứ lần lượt mà đứng lễ. Tế ngày giỗ thời con hoặc cháu sưng là tự tử hay tự tôn chức không được xưng hiếu tử.

Nghi tiết thiết linh toạ

Lập linh toạ là phép bày đồ tế lễ trước từ đường hay linh cữu. Tế thì có hai người thông xướng, người Đông xướng và người Tây xướng, lúc lễ vật sắp đủ rồi thì người đứng bên Đông (Đông xướng) xướng rằng: …

Tự lập, tang chủ vào đứng trước linh toạ rồi giai gái cứ lần lượt sắp hàng cùng vào người trở nhiều (trọng phục) đứng trước người trở ít (khinh phục) đứng sau.

Người Đông xướng xướng:

Cử ai (con cháu đều khóc)

Quán tẩy (những người hộ lễ đều thò tay vào trân đựng rượu xoa tay).

Thuế cân (lấy khăn lau tay rồi cứ người Đông xướng xướng thế nào thì những người hộ lễ nghe mà hành lễ)

Nghệ tinh toạ tiền (chủ tang vào đứng trước linh toạ)

Quỵ (chủ tang quỳ xuống)

Phần hương (những người chấp sự châm hương đứng ra hai bên rồi bước một dần lên linh toạ rồi cắm vào bình)

Phủ phục (chủ tang lễ xuống)

Hưng bình thân (chủ tang đứng ngay lên)

Trâm tửu (những người chấp sự rót rượu vào đai)

Rượu tửu (bưng lên dâng đặt linh toạ)

Ai chỉ (con cháu thôi khóc)

Giai quy (chủ tang quỳ xuống bên hữu, người đọc văn quỳ bên tả, đọc văn đều im mà nghe)

Phủ phục (chủ tang lễ xuống)

Hưng bình dân (chủ tang đứng lên)

Cử ai (con cháu lại khóc)

Cúc cung bái (con cháu đều lễ xuống hai lễ mà thôi)

Điểm trà (những người chấp sự chuyển chè bước một dẫn lên linh toạ)

Phần cáo văn (người đọc văn hoá văn)

Lễ tất (lễ xong)

Thiết linh toạ cáo văn (Văn tế)

Duy … niên hiệu … năm … ngày … tháng … năm … tỉnh … phủ … huyện … tổng … làng … giai hay gái trước linh sàng khóc mà than rằng: than ôi ! cây muốn lặng mà gió chẳng dừng, con muốn nuôi mà thân không ở. …

Nhớ … xưa nếp nhà trung hầu, vẻ người đoan trang, bấy lâu sum họp trong làng, giờ bỗng âm dương cách biệt. Hỡi ôi ! đi đâu không biết, trong vùng trời mây cao tít, bay ngang, lòng con luống những mơ màng, gạt hàng lệ miệng than câu nan báo, một tuần lễ tảo, cảm đến suối vàng xin người âm hưởng, phù hộ an khang.

Cẩn cáo

Đồ minh tinh

Minh tinh là cái cờ ghi chép phẩm tước của người mất, làm bằng lụa đỏ, viết chữ phấn trắng hay phấn vàng. Cờ lụa đỏ này quan tam phẩm trở lên thì chín thước, ngũ phẩm trở lên thì tám thước, lục phẩm trở xuống đến thứ dân thì bẩy thước. …

Cha thì đề rằng:

“Mỗ quan Mỗ tính thuỵ mỗ phủ quân chi cữu”

Mẹ đề rằng:

“Mỗ quan Mỗ tính môn chánh thất mỗ thị nhu nhân chi chữ”.

Tứ thất phẩm trở lên thì chữ Nhu nhân đổi là An nhân Ngũ phẩm đổi làm Nghi nhân, tứ phẩm đồi là, Cung nhân tam phẩm đỏi làm Lệnh nhân, nhị phẩm trở lên đến nhất phẩm đổi tam phu nhân, buộc vào cần tre cắm bên đông linh toạ, khi đưa ra vác đi trước cữu.

Chữ đề trong minh tinh phải tính cho cẩn thận, cứu bốn chữ: quỷ, cốc, linh, thích, nhưng đừng pạhm hai chữ quỷ cốc, tính cho được chữ linh tính mới hay.

Phép sắm áo chở (tang phục)

Đến ngày là thanh phục thì con giai con gái đều may sống áo để chở cho đủ, chở cha thì áo sổ gấu, chở mẹ thì áo vén gấu, nếu cha mất trước rồi mà chở mẹ thì cũng sổ gấu cả. …

Cách may áo chở, cứ lấy cuối đốt ngón tay giữa là một tấc, mười tấc là một thước ta, tuỳ người cao thấp mà may dài ngắn.

Chở một năm gọi là cơ niên

Chín tháng gọi là đai công

Năm tháng gọi là tiểu công

Ba tháng gọi là Ty ma

Những chở ấy áo may như áo mặc thường vậy nhưng chở 1 năm thì phải có gậy có mũ đứng về bên hữu, áo may vải to cũng có vạt phụ bản như áo trọng tang (phụ bản là miếng vải khâu thêm đính vào sau lưng).

Còn chở chín tháng “đại công” chỉ mặc áo vải to và ba vòng khăn bỏ thõng về bên hữu.

Chở năm tháng ba “tiểu công ty ma” thì ba vòng khâu bằng vải nhỏ trắng bỏ thõng về bên tả đầu cũng quấn dây gai nhỏ và lưng cũng thắt dây chuối nhỏ chứ không mặt gì bằng số như đại phục.

Thiên Chính hành có chép rằng: phàm những đồ mặc để chở rách không nên vá, ngắn không nên nối thêm.

Áo chở của con giai (Nam khôi phục)

Con giai để cho cha mẹ áo mặc khâu đường sống ra ngoài xiêm thì khâu đường sống vào trong. Đầu đội ngũ gai. Lưng thắt đai rơm buộc giải. Áo may hai bức dài bốn thước bốn phân, tay áo hai bên dài bằng người. …Thích (2 vai có 2 miếng vải) dài một thước sáu tấc rộng tám tấc. Phụ bản dài một thước tám tấc đính vào giữa lưng giáp hai bên đường sống bỏ thõng xuống. Xiêm khâu tiếp bẩy lúc.

Trống gậy cha thì chống gậy tre, chọn mâm đốt lấy nghĩa cha lượng như giới “tre đòn” mẹ thì chống gậy bằng gỗ vông mà đẽo trên tròn dưới vuông lấy nghĩa mẹ lượng với đất “đất vuông” cứ nửa người trở xuống trông mới hợp lễ. Lại phải đổi giầy bằng đơm nữa chữ gọi là (ma miết).

Áo chở con gái (Nữ thôi phục)

Con gái để chở cũng khâu đờng sống ra ngoài quần thì đường sống vào trong tuỳ người cao thấp mà may, áo may thật rộng tay dài…quần may liền bức, chở cha sổ gấu, chở mẹ vén gấu, đầu đội mũ mấu bằng vải lưng thắt đai gai đi giầy gai.

Lễ thành phục

Kể từ ngày người mất đến ngày thứ tư được bốn ngày rồi thì nơi này là ngày thành phục. Lễ thành phục thì con cháu sắp đủ sẵn khăn mà làm lễ. Lúc làm lễ người hộ lễ vào xướng lên thì những người trong (ngũ phục) (đại tang cơ niên đại công tiểu công (y ma) mặc áo tang phục vào mà hành lễ. …

Chấp sự xướng

Tự lập (tang chủ vào đứng trước linh toạ)

Cửa ai (con cháu cùng khóc)

Quán tẩy chấp sự (ra xoa rượu vào tay)

Thuế càn chấp sự (lấy khăn lau tay)

Nghệ hương án tiền (chủ tang đi lên một bước trước án)

Phần hương chấp sự (đốt hương dẫn lên án tiền mà cắm vào)

Trâm tửu (chấp sự rót rượu)

Diện tửu dẫn lên án rồi nghiêng mình đi trở xuống

Ai chỉ (con cháu thôi khóc)

Đọc chúc chủ nhân bên hữu, người đọc bên tả xong rồi chủ tang lễ một lễ đứng lên.

Phục vị (chủ tang lui xuống một bước)

Điểm trà (những người chấp sự truyên chè dẫn lên án đi xuống đứng ra hai bên).

Cử ai (con cháu lại khóc)

Cúc cung bái (chủ tang hai lễ)

Hương bình thân (chủ tang đứng ngay lên)

Phần chúc (người đọc văn hoá văn)

Lễ tất (tất cả con cháu cùng lễ)

Văn tế thành phục

Than ôi ! sương sa cây đổ, mây phủ núi tan, hỡi thiếp công sao khéo đa đoan cho người thế thế mà lại thế, áo sặc sỡ trước thềm chưa thoả chí, than ôi ! còn thiếu nghĩa làm con, sầu đa mang trong dạ chất thành non…sóng vỗ làn dâu bể, nhớ thương đôi lệ, tưởng nhớ linh hồn. Nhân nay tang phụ đã an, kính dâng một lễ, gọi là dốc lòng báo đền chung thuỷ, chúc ngàn thu yên nghỉ suối vàng.

Thượng hưởng.

Văn phụ thêm (Hựu thể)

Than ôi ! Nguyện dãi dầu non, châu rơi rốn bể Hỡi … “cha hay mẹ” đi đâu, cuộc đời sao vội thế, để nhà vắng vẻ, trong dạ những âu sầu, lòng con nay thương nhớ, trông mây trắng một mầu …tưởng nhớ câu chín chữ cù lao thành tâm một lễ, áo tang bốn ngày vọn vẽ, trước án cúi đầu xin người chứng quả, trọn nghĩa trước sau.

Thượng hưởng.

Lễ chiêu điện, tịch điện (Sớm tối)

Chiêu tích điện là lễ buổi sớm và buổi tối, con cháu làm lễ trước linh sàng, buổi sáng thì thưởng thực, buổi tối thế tế tịch điện, nghĩa là “sớm mời vong dậy mà ăn, tối mời vong đi ngủ”…

Tế buổi sáng thì cháu con vào trước linh sàng khóc lên ba tiếng rồi cuốn màn lên quỳ xuống mà khấn rằng:

Giờ đã sáng rồi, rước linh bạch ngự linh ra toạ cẩn cáo.

(Nhật sắc di minh, thỉnh nghênh linh bạch vu linh toạ cẩn cáo)

Lễ một lễ rồi rước hồn bạch đặt vào ỷ, bấy giờ người nhà cất chăn gối đi làm lễ chiêu điện.

Tế buổi tối thì con cháu vào trước linh sàng khóc lên ba tiếng quỳ xuống khấn rằng:

Giờ đã tối rồi rước linh bạch vào màn nghỉ cẩn cáo.

(Nhật thời hưng mộ thỉnh nghênh linh bạch vu tẩm sở cẩn cáo)

Lễ một lễ rồi rước hồn bạch ra linh sàng đắp chăn áo lên, buông màn xuống rồi làm lễ tịch diện.

Cứ mỗi ngày hai buổi làm lễ như thế tưởng vọng như lúc người hãy còn sống, vậy bàn thờ phải hương đăng hoa quả cúng bái không nên để khói tanh.

Nghi tiết tế chiêu – điện tịch – điện

Tế chiêu – điện và tịch điện nghi tiết như sau: Tự lập chủ tang vào Cử ai con cháu đều khóc Quán tẩy chấp sự rửa tay vào thau rượu Thuế cân chấp sự lấy khăn lau tay …

Nghi hương án tiền chủ tang lên một bước

Phần hương chấp sự đốt hương nâng lên

Châm tửu chấp sự rót rượu ra đài

Điện tửu chấp sự dẫn rượu lên án

Ai chỉ (con cháu thôi khóc)

Giai quỵ (chủ nhân bên hữu)

Đọc cáo văn (người đọc văn quỳ bên tả)

Phủ phục (đọc văn xong chủ tang lễ xuống)

Bình thân phục vi (chủ tang xuống một bước)

Điểm trà (chấp sự truyền dẫn nước lên)

Cử ai (con cháu khóc)

Cúc cung bái (tất cả côn cháu lễ hai lễ)

Phần cáo văn (người đọc văn hoá văn)

Lễ tất (tất cả mọi người đều lễ)

Văn tế chiêu điện tịch điện

Than ôi, gió thảm mưu sầu, lòng phảng phất ngày thương đêm nhớ, trời cao bể rộng, công sinh thành như nước như non, nhớ xưa định tỉnh than hôi vui lòng (thung hoặc huyên nhất) nay đã âm dương cách biệt…tủi phận đàn con câu thơ chết như sóng thơ mất như còn, tình thân (phụ hay mẫu) tử, nhân nay đặt nghi chiêu, tịch lễ bái sớm hôm, xin người chứng dám, dãi tấc lồng son.

Thượng hưởng.

Nghe tin cha mẹ mất về chịu tang

Khi con cháu đi làm ăn hoặc ở đâu xa xôi, nghe tin cha mẹ, ông bà mất, được tin thì khóc lên mấy tiếng, hỏi xem người chết vì bệnh gì, bấy giờ sắm khăn áo mà về nhà, cứ tính từ ngày biết tin đến ngày thứ tư là thành phục, không kể từ ngày người mất mà mình chưa biết.

Về nhà rồi có lễ vật quý lại gì thì đem lên linh sàng mà cúng.

Khách đến viếng (Tàn khách điếu)

Người mất chưa đến ngày thành phục hoặc có khách đến thăm viếng mà chủ nhân chưa có mũ áo thì đứng ra chào, thấy khách đến thì khóc lên rồi cho người tang ra tiếp, người hộ tang lấy lời nhẽ ôn tồn mà tiếp khách từ tạ ân cần, kẻo mang tiếng chủ tang kiêu ngạo. Nếu đã thành phục rồi có khách đến viếng, thì chủ nhân đội mũ áo trống gậy ra mà đáp lễ, nếu khách có phúng cỗ bàn hay tiền bạc gì thì làm trạng tế theo nghi tiết.

Lời dặn

Có người khách đến thăm cha mẹ mình, bỏ mũ gậy ra mà lễ đáp, điều đó thật là không nên, phải biết rằng mũ đó là mũ chở cha mẹ, chứ không phải đội mũ mặc áo chống gậy tiếp lễ với khác.

Xưa họ Lã nói về việc tang điếu rằng: “Cha mẹ chết đi, con 3 ngày không ăn, không dứt tiếng khóc, đến nỗi mà ốm không dậy được sau phải trống gậy mới dậy được vậy việc tiếp khách đến thăm cha mẹ có mũ gậy chống từ đấy.

Lễ phúng (Phúng điện)

Có khách đến phúng cha mẹ mình lúc sắp làm lễ thì tang chủ đội mũ mặc áo vào quỳ trước linh toạ mà khấn rằng “mật khẩu”.

Nay có quan … ông … là bạn thân trước, có lòng đến thăm vậy xin làm lễ.

(Tự hữu mỗ quan dĩ cố nghĩa nhập hành điếu lễ).

Lễ xong bước chân ra ngoài mà đứng về phía đông trông đằng tây đợi tế xong thì lễ tạ khác.

Xướng tế

Tự lập (khách đứng thành hàng chỉ một người đứng mực vào chủ tế nhưng cứ áo trắng khăn thâm).

Cử ai, con cháu đều khóc

Ai chỉ, con cháu thôi khóc

Cúc cung bái, người lễ chủ lễ hai lễ

Nghệ linh toạ tiền, người tế chủ lên chiếu trước linh toạ

Phần hương, người hộ lễ đốt hương dẫn lên án

Quỵ, người nào nhiều tuổi hay chức to không phải quy

Chuốc tửu, người hộ lễ đưa rượu cho khách rót

Điện tửu, người hộ lễ dẫn rượu lên án tiền

Giai quỵ, người hộ lễ quỳ bên hữu người chủ tế

Tuyên trạng, người hộ lễ đọc văn

Phủ phục

Hưng bình thân

Phục vị

Cúc cung bái, lễ hai lễ

Hưng bình thân

Nạp trạng (người đọc trạng hoá trạng)

Lễ tất, lễ rồi các tân khách đứng sắp hàng đằng tây ngoảnh sang đằng đông chủ tang lễ tạ khách hai lễ.

Trạng phúng

Khách đi thăm người bạn mất nếu làm trạng phúc thì viết thế này:

Niên hiệu … năm … tháng … ngày … họ và tên … mỗ (người khách) nay có lễ vật xin đem kính dâng lệnh quan lệnh công xin người chứng dám cẩn trạng.

Phép quàn thấn

Người mất còn để trong nhà chưa đưa ra đồng gọi là quàn thấn (tam táng).

Quàn thấn là nhà giầu có muốn lưu lại ít lâu trong nhà để sắp đặt tang nghi cho chỉnh tề hoặc nhà nghèo ngặt chưa kịp lo liệu xong cho nên hãy quàn tạm lại, nhưng quàn thì phải giữ gìn linh cữu đêm ngày cho cẩn thận còn nghi tiết lễ bái cũng giống như trên.

Văn tế hạ tiết

Hỡi cha đi đâu, cuộc đời vội thế để nhà vắng vẻ, lòng con âu sầu, tưởng công sinh con bấy lâu, ân nguồn ái bể nay đã âm dương chia rẽ, ruột héo gan đau, buổi nắng hè nắng dạm mùi nâu thương con cuốc kể đêm tuyết điểm răng soi lặng lẽ, tựa trống canh thâu, nhân nay hạ tiết là đầu, kính dâng một lễ, gọi là tấc lòng chung thuỷ báo đức cù lao.

Thượng hưởng

Văn tế trung nguyên (Thiết linh sáng)

Than ôi, chín chữ cù lao bao năm bú mớm, nay cha, mẹ về sớm, biết bao gió thảm mưa sầu, công đức bấy lâu khác nào giời cao bể thẳm: đau đơn nỗi chim bay thổ lặn, áo Ban y chưa được múa trên lầu, buồn bực thay nắng dãi sương dầu tiết trung nguyên dã hồ vừa tới khoảng, lòng thành ai cảm dâng, bữa cơm rau, xin người chứng dám tỏ nỗi xưa sau, thượng hưởng.

Văn tế trung nguyên

Than ôi, giăng tối vì mây, bèo tan bởi gió, cuộc đời không khó, chắc tiền công chung có cơ cầu, hỡi … đi đâu để con trẻ xiết bao thương nhớ, dâu bể bao làn sóng vỗ, mây xanh trông ngắt một mầu, nhớ công sinh dục bấy lâu lệ rơi chan chứa, giờ đã âm dương chia ngả, dạ lại âu sầu, thôi thì thôi nghĩa nặng ân sâu lòng con đã rõ ngày thực chóng, trung nguyên tiết giữa tháng bầy là đầu tâm thành một lễ, trước án cúi đầu xin người chứng quả, trọn nghĩa trước sau.
Thượng hưởng.

Văn tế trừ

Than ôi, ngày qua tháng lại thấm thoát tựa tên bay lá rụng hoa rơi thêm sầu con gió thổi, sực nhớ năm xưa dưới gối biết bao sớm tối vui vầy, ơn sâu chín chữ, nghĩa nặng bấy nay, nhân vừa năm đã hết ngày, tế trừ gặp buổi kính thành lưng cơm dĩa muối, trước án đặt bầy xin người chứng dám, khỏi tủi lòng này.
Thượng hưởng.

Văn trùng thất và bách nhật (như nhau)

Than ôi, cha, mẹ hỡi đi đâu, cuộc đời sao vội chán, lòng con ngao ngán, thương nhớ bấy lâu, nay vừa tiết đến bảy ngày, rượu dâng ba chén, ngán nỗi mưa sầu, gió thảm thỏ chạy chim bay, một mâm trên án sắp bầy xin mời sảng linh chiếu dám.

(Quàn trong 3 tháng, trước ngày an táng phải tìm chỗ đất tốt mà an táng)

Cách làm thần chủ

Làm thần chủ thì lấy một đồng tiền làm thước tấc mà đo cứ mỗi đồng là một tấc, mười đồng là một thước làm bằng gỗ lật (Chu dĩ lật) phải tính ngày giờ.

Thần chủ bề cao một thước hai tấc, rộng ba tấc dầy một tấc hai phân, đằng trước bốn phân làm bằng phấn điện bề dưới vuông bốn tấc dầy một tấc hai phân, đục suốt để vừa lọt thần chủ, thần chủ hai góc trên để cách ra 5 phân, làm hình tròn trên làm mui luyện cũng để cách giữa mỗi bên một tấc, đằng trước sâu vào bốn phân, hãm trung vào hai bên để chữ chiều dài sáu tấc rộng một tấc cũng đục sâu bốn phân, hai bên đều đục lỗ bốn phân, để lùa tấm ván hãm trung vào.

Mở quàn thấn

Hôm nào mở quàn thấn thời hương đăng lễ vật ra trước quàn thấn, chấp sự xướng:

Tự lập, chủ tang đứng trước quàn thấn

Cử ai, con cháu đều khóc

Quỵ

Châm tửu, chấp sự quỳ rót rượu

Hiến tửu, dẫn rượu lên án quàn thấn

Chúc cáo từ, chủ tang quỳ bên hữu khấn rằng:

Đường đã mở rồi, sắp đem an táng, nay xin mở thấu xin mời người lên tế đường cẩn cáo.

(Tổ đạo kỷ khai, tương hành ninh táng, tư khai khấn nghênh nhập vu tế đường cẩn cáo)

Lễ hai lễ rồi chủ tang đứng sang bên những người hộ việc khai quàn thấn ra rước cữu về nhà thờ làm lễ yên vị.

Văn tế khai quàn thấn

Hỡi cha (mẹ) có hay, cuộc đời quên cả, để con nôn náo trong lòng đắng cay, nhớ công chín tháng hoài thai, báo hiếu tấc lòng chưa giả, nhớ thương trong dạ quyền tạm bấy nay thấn khai nhân đã được ngày, lễ bạc xin dâng bái tạ mời người dáng hạ, để kịp ngày giờ, nhẹ gót đường mây.
Thượng hưởng.

Chuyển cữu

Chuyển cữu là lễ rước cữu để chiều tổ, nghi tiết cũng như trên, trước khi rước đi thì chủ tang quỳ trước cữu mà khấn rằng: Nay được giờ lành, vậy xin thiên cữu, cẩn cáo. (Kim dĩ cát thời thiên cữu cẩn cáo). … (Kim dĩ cát thời thiên cữu cẩn cáo).

Nếu rước cữu đi chiều tổ, nhà chật quanh ra quanh vào không tiện, thì chỉ tế chuyển cữu rồi phát rẫn mà thôi.

Đấng tiên hiền dạy phải rước cữu đi chiêu tổ, nhưng bây giờ nhà chật hẹp cữu nặng nề, rước đi không tiện thì nên giảm bớt đi, chỉ rước hồn bạch thay cữu cũng được, mà rước thì rước hồn bạch không thôi, thế cũng là có lòng trọng tổ tiên rồi, dù làm quan có mũ áo phẩm phục cũng không nên phong vào hồn bạch mà rước, vì mũ áo đó là của vua chúa chứ không nên mặc phong mũ áo rước, tiếng là trọng cha ông, phụng hoá lỗi mất ba điều vậy:

1. Cha ông tổ tiên dám đâu nhận lễ mũ áo của vua.

2. Người mất (vong) há dám mặc mũ áo của vua.

3. Con cháu há dám phong mũ áo của vua ban.

Làm thế e rằng lạm quá, chỉ nên chít khăn nhiễu mặc áo lam cho vong thôi, còn mũ áo thì tống chung xong rồi bây giờ sẽ phong phục mà thờ, thế thì vừa hợp lễ, trên kính vua dưới hiếu với cha, đôi bề vẹn cả.

Nghi tiết rước yết tổ

Trước khi sắp rước cữu ra đồng an táng thì phải rước cữu hoặc từ đường về để yết tổ.

Lúc làm lễ người chấp sự xướng

Tự lập chủ tang vào trước án từ đường

Cử ai con cháu đều khóc

Ai chỉ thôi khóc

Giai quỵ đều quỵ cả

Quán tẩy chấp sự xoa rượu vào tay vào mặt

Trâm tửu rót rượu vào đài

Hiếu tửu dẫn rượu lên án

Chúc cáo văn tang quỳ bên hữu khấn rằng:

Sắp rước cữu ra đến nhà mồ nay yết tổ, cẩn cáo

(Tương hoàn u trạch thỉnh yết từ đường cẩn cáo)

Phủ phục chủ tang lễ hai lễ

Hưng bình thân đứng ngay người lên

Điểm trà, chấp sự dẫn nước trà lên án, chủ nhân lui bước ra ngoài.

Phụng bưng bạch thăng xa (người nhà bưng hồn bạch lên kiệu)

Lúc kiệu đi thì con cháu đi theo mà khóc kiệu đến thì đỗ trước sân từ đường về phía Tây trông sang hướng Đông đợi trong nhà khấn xong thì bưng vào, bấy giờ người chấp sự với chủ tang vào  cáo lễ trong  nhà thờ, chấp sự xướng:

Tựu vị (chủ tang mũ gậy bước vào trước án từ đường)

Cúc cung bái (chủ tang lễ hai lễ)

Hưng bình thân (đứng ngay lên)

Trâm tửu (chấp sự rót rượu dẫn lên)

Chúc cáo văn (chủ tang quỳ bên tả khấn rằng: Cháu vì cha mấtnay đưa ra mồ, lấy lòng cung kính xin đem yết tổ tự tôn mỗ … vì dĩ mỗ thân quyên quán tương hoàn u trạch, thỉnh yết từ đường cẩn cáo).

Phủ phục (chủ tang lễ bốn lễ)

Hưng bình thân (đứng ngay lên bước ra đứng cạnh xe linh bạch).

Thỉnh linh bạch nhập từ đường (người nhà hưng linh bạch vào con cháu theo vào đứng bên).

Cúc cung bái (đều bốn lễ)

Bình thân thiểu cước, chủ tang lui một bước rồi lễ bốn lễ nữa (bốn lễ trước thay cha, bón lễ sau của cháu).

Lễ tất

Thỉnh nghênh linh bạch hoàn cựu sở (người nhà lại hưng linh bạch vào linh xa)

Bấy giờ chủ tang và con cháu đều khóc rồi bước đi.

Văn cáo đào huyệt

Nay có cố thân, rời xa trần thế, trọn đây cát địa, xin để mộ phần, hồn mà khoái lạc, người chắc có nhân, gò nào quán ấy, chim đỗ đất lành, nay tôi thiết lễ, dâng kính thổ thần, nhờ người ủng hộ mọi việc xa gần, điềm hay đem đến, điềm dữ di dần, tâm thành một tấc rượu chuốc ba tuần, xin người chức giám dãi chút lòng trần.

Nghi lễ tế cáo thần đạo lộ

Trước ngày phát dẫn một ngày đêm hôm ấy chỗ ngã ba đường sắp bầy hành lễ.

Tựu vị nhờ người ngoài thay chủ tang

Cúc cung bái lễ bốn ngồi đứng lên ngay

Hưng bình thân

Quỵ quỳ xuống

Thượng hương chấp sự đốt hương dẫn lên

Trâm tửu rót rượu dẫn lên

Đọc chúc người đọc văn quỳ bêntả

Phủ phục

Hưng bái lễ bốn lễ

Hưng bình thân

Phần chúc người đọc văn ra hoá văn

Lễ tất cùng lễ bốn lễ

Văn tế cáo thần đạo lộ

Phủ … huyện … tổng … xã … tế chủ mỗ cẩn dĩ … cáo vu ngũ phương đạo lộ chi thần vị tiền viết: nay có cố thân, cách nơi trần thế, chọn đây cát địa, nhân gặp giờ lành dám xin ngũ tướng tối linh, đường đưa lối chỉ cho được an sinh thi thể, gió quét mây thanh, nhân nay gọi chút lòng thành, kính dâng bốn lễ, xin người hộ vệ, vãng phản binh ninh.
Thượng hưởng.

Rước cữu ra nhà cảnh sự

Có nhà cảnh sự thì rước cữu ra đấy, nếu không thì thôi, chỉ sắp đặt mà hành lễ.

Chấp sự xướng:

Tự lập chủ tang vào đứng trước cữu

Cử ai con cháu đều khóc

Ai chỉ con cháu thôi khóc

Chủ nhân dĩ hạ giai quỵ mọi người đều quỳ

Chúc cáo văn chủ tang quỳ bên hữu khấn rằng:

Sắp về u trạch chọn được giờ tốt, vậy xin chuyển cữu cẩn cáo. (Tương hoành u trạch kim dĩ cát thời thiên cữu cẩn cáo).

Phủ phục lễ hai lễ

Hưng bình thân

Lễ tất các người giúp việc vào truyền cữu đi, bấy giờ con cháu khóc theo rước đi.

Nghi tiết lễ tổ điện

Nghi tiết lễ tổ điện … (Đến hồi trưa lại làm lễ cúng tổ)

Tựu vị chủ tang vào đứng trước án

Cử ai con cháu đều khóc

Ai chỉ thôi khóc

Quán tẩy người chấp sự xoa rượu vào tay

Nghệ linh toạ tiền chủ tang bước lên một bước

Quỵ quỳ xuống

Phần hương chấp sự đốt hương dẫn lên

Trâm tửu

Cáo từ khấn rằng:

Nay được giờ tốt, xin rước cữu đi, nay đến lễ tổ cẩn cáo.

Lĩnh thiên chi lễ linh thời bất lưu kim phúng cữu xa thúc luân tổ cẩn cáo)

Phủ phục lễ bốn lễ

Hưng bình thân

Cử ai con cháu đều khóc

Cúc cung bái lễ bốn lễ

Hưng bình thần

Lễ tất

Lễ thiên – cữu ra xe du (đại dư)

Lễ thiên – cữu ra xe du (đại dư) …

Lễ thiên cữu là lúc cữu ra đại dư thì một người chấp sự xướng lên để hành lễ.

Tự lập tang chủ đứng ra trước linh cữu

Cử ai con cháu đều khóc

Giai quỵ đều quỳ xuống

Chúc cáo từ chủ tang quỳ bên hữu khấn rằng:

Nau rước cữu ra xin mời linh bạch lên xe về cùng tiên tổ, cẩn cáo

(Kim thiên cữu tựu dư thỉnh phúng linh bạch thăng xa ngôn hoàn tổ đạo, cẩn cáo)

Phủ phục chủ tang lễ hai lễ

Hưng bình thân

Lễ tất

Bấy giờ người giúp việc bưng linh bạch lên kiệu đặt thần chủ sau hồn bạch, cất dọn linh sàng linh toạ đi rồi rước cữu đi ra xe dư.

Rước cữu lên đại dư

Lúc rước cữu ra đại dư thì đầu cữu về đằng trước, (Hồ thượng thư dậy việc lễ, khi rước cữu để đầu về đằng trước nghĩa là từ chỗ tối ra chỗ sáng) buộc cho chặt rồi đặt nhà táng lên…những người giúp việc bầy các lễ vật bên tả đại dư rồi chấp sự xuống:

Tựu vị, hiếu chủ vào quỳ xuống

Quỵ

Trâm tửu những người chấp sự rót rượu

Đọc chúc, đọc văn

Phần chúc hoá văn

Lễ tất

Đoạn rồi một viên chấp sự vào trước linh xa quỳ mà khấn rằng:

Xe dư đã rước đến u trạch xin mời linh bạch ra đi cẩn cáo.

(Linh xa ký giá, vãng tức u trạch xin mời linh bạch tiến hành cẩn cáo).

Bấy giờ ngắm sau ngắm trước đều đặn mà đi.

Tế khiển điện

Sáng sớm hôm phát dẫn tế khiển điện nghĩa là tế tiễn biệt.

Người chấp sự xướng:

Tựu vị “vân cân như trước”

Cử ai, Ai chỉ, Quán tẩy, Nguệ linh toạ tiến, Quỵ, Phần hương, Trâm tửu.

Cáo từ rằng: Xe dư đã rước đem đến nhà mồ, lồng thành lễ bạc, dâng giữa trung đồ, cẩn cáo (Linh cữu ký giá, tức vãng u trạch, tái trần khẩn lễ, vĩnh quyết trung đồ, cẩn cáo) (Phủ phục, Hưng bình thân, Cử ai, Cúc cung bát, Lễ tất).

Văn tế thần đại dư

Phủ … huyện … tổng … xã … tế chủ mỗ … cẩn dĩ cáo vu dư thần chi tiền viết.

Nay có cố thần được giờ ninh thế, xe đi chung lộ, nhờ có lục thần, giây dai chắc nút, rủi bước nhẹ chân, nhờ người che chở, dẫu xa cũng gần, gọi là lễ mọn, xin người làm ăn.
Thượng hưởng.

Phát diễn cữu (Đưa ma)

Lúc phát dẫn cữu nên đi có thứ tự, trước hết dẫn hai vị phương tướng đi đầu, hai tướng ấy làm bằng giấy, mặt vẽ có vẻ hung ác, tay cầm khí giới, quan tứ phẩm trở lên làm bốn mặt gọi là phương tướng, tứ phẩm trở xuống làm hai mặt gọi là kỳ đầu.

Thứ hai đến cờ đan triệu (đàn ông thì viết chữ trung tín, đàn bà thì viết chữ trinh thuận)

Thứ ba thì hương án

Thứ tư dô minh khí

Thứ năm án thực

Thứ sáu minh linh

Thứ bảy linh xa rước linh bạch

Thứ tám công bố làm bằng ba thước vải trắng, đi trước đại dư hễ thấy đường chỗ nào chật hẹp hoặc gập ghềnh không được thẳng, thời dơ lên dơ xuống cái công bố để ra hiệu cho dư phu biết mà đi cho đều.

Thứ chín quạt mồ (chữ gọi cắt thiếp) quan tước thì bốn cái, dân thì hai cái.

Thứ mười đồ đưa đám.

Thứ mười một đại dư (cữu) từ tang chủ trở xuống đi bộ khóc theo.

Thứ mười hai bạc mạc đàn bà con gái trong ngũ phục 3 năm, 9 tháng, 5 tháng, 3 tháng (đều đi vào trong trường ấy).

Tế trung đồ (giữa đường)

Chấp sự xướng:

Tự lập “vân vân như trước”

Cử ai, Ai chỉ, Quán tẩy, thuế cân, Nghệ hương án tiên, Quỵ, Phần hương, Trâm tửu, Hiến tửu, Hiến soạn, Đọc chúc, Phủ phục, Hưng bình thân, Phục vị, Điểm trà, Cử ai, Cúc cung bái, Bình thân, Phần chúc, Lễ tất.

Chấp sự lại xướng:

Phúng hồn bạch thăng xa (người giúp lễ rước hồn bạch lên xe rước đi).

Văn tế trung đồ

Than ôi, chín chữ cù lao, ba năm bú mớm, ơn sâu chưa giả, nghĩa nặng biết bao.

Những mong mỏi tuổi bạc càng cao, sớm trưa nương tựa.

Nào ngờ xe hạc vội giá, xa cách từ đây.

Đau đớn thay thỏ chạy chim bay, ngao ngán nỗi gió thu mưa hạ, âm dương chia ngả thương nhớ khôn nguôi.

Tưởng công dưỡng dục bấy nay, báo đền nghĩa cả, gọi chút kính thành từ tạ nam bắc chia tay, giữa đường sắp đặt lễ này, xin người đẳng vân giáng hạ, thượng hưởng.

Giữa đương tân khách cáo từ trở về, thì tới trước cữu ô hô vài tiếng rồi lễ hai lễ sẽ về, nếu đã táng xong (thành phần) thì lễ bốn lễ.

Hạ huyệt

Lúc rước cữu đến huyệt thì thầy phù thuỷ hay nhà sư cầm gậy tâm sích khua bốn góc huyệt theo cổ lễ thời những phương tướng cầm khí giới khua bốn góc huyệt rồi cắm đứng ra bốn góc, đoạn rồi hạ quan xuống huyệt, thầy địa lý nhân kim áo quan cho ngay rồi dải minh tinh lên mặt. Sách văn hộc minh chân ký chép rằng: minh tinh giải lên mặt trong giây lát rồi cuốn lại đem ra phương bắc mà đốt đi.

Tặng huyền huân

Chủ tang xem phần kim cẩn thận rồi lấy 6 tấm lụa huyền 1 tấm lục Huân, để xuống cữu Huyền là mầu thuyền Huân là mùi hồng nhạt mỗi tấm dài một trượng tám thước, nếu không có đủ thì mỗi thức một tấm cũng được đoạn tang chủ và con cháu đứng trước huyện vừa khóc vừa lễ hai lễ.

Bấy giờ những người hộ dư từ từ hạ thổ trị tam hợp được thì hơn khỏi lo nước đi vào hay rễ cây đâm vào quan, lúc lấp đất cứ độ 1 thước thì lấy vốc tay mà ném, chớ làm động đậy đến cữu.

Đắp thành mồ rồi thì người chấp sự vào đứng bên tang chủ xướng rằng:
Chủ nhân nghệ trác tử điền

Xướng xong thì dẫn chủ nhân đến nhà Đề chủ (để chủ đường)

Tế thần mộ

Tang xong rồi thì bầy lễ vật trước linh phần mộ mà lễ thần Hậu thổ.

Người chấp sự xướng:

Tựu vị vân vân như trước

Cúc cung bái, Quán tẩy, Thuế cân, Nghệ hương án tiền duy, Thượng hưởng, trâm tửu

Loại tửu, chủ nhân rót rượu xuống đất

Phục trâm, chủ nhân lại rót

Hiến tửu, chấp sự rót rượu dẫn lên

Phủ phục, vân vân như trước

Bình thân, Thiểu cước, Quỵ, Độc chúc, Phủ phục, Hưng bình thân, Phần chúc, Lễ tất.

Văn tế thần linh mộ

Than ôi ! Sông có Hà bá, đất có Thổ thần, nay vì cố thân rời xa dương thế, chọn đây cát địa, an táng mộ phần cho người ủng hộ, rộng mở hồng ân, được yên muôn thuở, trọn vẹn mười phần, lâu đài mãi mãi, kết quả dần dần, tâm thành bốn lễ, rượu chuốc bốn tuần, xin người âm hưởng, xét tới lòng trần.
Thượng hưởng.

Đề chủ

Đề thần chủ thờ đề ở phía tây mộ

Chấp sự xướng:

Tự lập, Cử ai, Ai chỉ,

Thuế cân, Xuất chủ, người đọc chúc mở hòm rước mộc chủ đặt lên bàn.

Đề chủ, trước đề hãm trong sau đề phấn diện.

Phủng chủ chi linh toạ, người đọc chúc bưng chủ lên linh toạ.

Thu hồn bạch, người đọc chúc cất linh bạch vào hòm để sau thần chủ.

Nghệ linh toạ tiền,

Phần hương chấp sự đốt hương dẫn lên hương án

Quỵ, trâm tửu, chấp sự quỳ xuống rót rượu

Hiến tửu dẫn rượu lên án

Hiến soạn dĩ hạ, bâng cỗ lên án

Quai quỵ con cháu mọi người đều quỳ xuống

Đọc chúc, chủ nhân bên hữu, người đọc văn bên tả

Phủ phục hưng chủ tang lễ một lễ

Bình thân phục vị lùi xuống một bước

Điểm trà, chấp sự dẫn trà lên hương án

Cử ai, con cháu đều khóc

Tế xong đâu đấy rồi thì con cháu lễ tạ quan Đề chủ hai lễ.

Văn tế Đề chủ

Than ôi ! giăng giãi đầu non, bóng in mặt bể, kể cha mẹ cách xa trần thế, lòng con mơ tưởng như còn nhân nay mộ đắp đã an, tủi trong vô ký nhuận bút chủ để mục vị nghinh phụng thần hôn, dám xin linh sảng chi tôn ngàn thu yên nghỉ, gọi chút báo đền hiếu nghĩa một chút lòng son.

Thượng hưởng.

Cách thức đề chủ

Hãm trung

Cha thì đề: Cố mỗ quan, mỗ công, huý mỗ, tự mỗ, hành cơ thần chủ.

Mẹ thì đề: Cố mỗ phong, mỗ thị, huý mỗ, hiệu mỗ, hành cơ thần chủ.

Mặt phấn diện

Cha thì đề: Hiền khảo mỗ quan mỗ công tự mỗ phủ quân thần chủ.

Mẹ thì đề: Hiền tỉ mỗ phong, mỗ thị hiệu mỗ phụ nhân thần chủ.

Hai bên ngoài hãm trung

Tả thì đề: Sinh ư niên … nguyệt … nhật … thời … hưởng thọ

Hữu thì đề: Tốt ư niên … nguyệt … nhật … thời …

Phía dưới bên tả phấn điện

Đề rằng: Hiếu tử mỗ phụng tự

Xong rồi rước thần chủ lên kiện để hòm hồn – bạch sau thần chủ.

Lễ thành phần

Tự lập, Cử ai, Quán tẩy, Thuế cân, Phần hương, Cúc cung bái, Trâm tửu, Quỵ, Hiến tửu, Đọc chúc, Phủ phục, Điểm trà, Phần chúc, Lễ tất … như trước.

Văn tế thành phần

Than ôi ! Sương xa cây đổ, mây phủ mù che, hỡi thiên công sao khéo khắt khe, cho cuộc thế ai ngờ ra thế, nhớ công cha mẹ giọt lệ đầm đìa, đường đi chẳng thấy lối về, sóng vỗ cam làm dâu bể, thôi từ đây dẫu thể phách đã về miền Bắc lý, nhưng linh hồn còn tỉnh giấc Nam khê (kha, thôi vời trông chín từng mây phủ, ba thước đất đê, cảnh tình lai láng, thương nhớ thảm thê, nhân nay phần mộ vẹn vẽ, công việc êm đẹp mọi bề, suối vàng có biết ngàn thu đừng mê, gọi là lòng thành lễ bạc đãi tỏ lòng quê).

Tế xong rước về, lúc về thì tang chủ đi dật lùi đằng trước linh xa, con cháu theo sau, về đến nhà rồi thì viên chấp sự quỳ bên cạnh linh xa mà xướng rằng:

Xin rước thần chủ vời linh bạch vào linh toạ cẩn cáo. (Thỉnh nghênh thần chủ linh bạch nhập linh toạ cẩn cáo).

Bấy giờ người hộ việc rước vào rồi theo nghi tiết mà làm lễ phản khốc, nếu không tế thì các con vào khóc một lúc lâu lễ yên vị tất lễ rồi sửa soạn tế ngự.

Lễ phản khốc

Phản khốc là lễ đưa đám xong trở về thì làm lễ.

Chấp sự xướng:

Tự lập

Cử ai

Ai chỉ

Phần hương

Cúc cung bái

Trâm tửu, quỵ

Hiến tửu

Giai quỵ, độc chúc

Phủ phục

Phần phục

Lễ tất (… như trước)

Văn tế phản khốc

Thương thay ! cha ơi, đau lòng con lắm, nhân nay việc táng mộ phần xong rồi, giờ nghênh thần chủ về đây lễ vật sắp đầy trước án, hương thơm vài nén, rượu tốt (ngon) hạ đài, xin người chứng dám dãi chút tình ai.

Thượng hưởng.

Nghi tiết tế ngu

Ngụ có nghĩa là yên vị khi cha mẹ mất đi, xác thịt đã chôn dưới đất, còn hồn phách bâng khuâng chưa nương tựa vào đâu nên con cháu tế ba tuần ngự tế nàu để cầu an hồn phách cha mẹ.

Tế Sơ ngụ rồi hễ gặp ngày Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý, thời tế Tá ngụ ngày Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thờ tế Tam ngụ.

Tế ngụ ba tuần nghi tiết như sau:

Đặt hai vị: Thông – tán, Dẫn – tán xướng tế

Thông – tán xướng:

Tự lập, chủ nhân ra trước án

Xuất chủ, người hộ lễ vào mở khám

Cử ai, con cháu đều khóc

Ai chỉ, con cháu thôi khóc

Dẫn – tán xướng:

Nghệ quán tẩy sở, chủ nhân ra xoa rượu vào tay

Thuế cân, lấy khăn lau tay

Nghệ hương án tiền, chủ nhân ra án tiền

Phần hương, chủ nhân đốt hương khấn, xin linh hồn tự trên dương dáng xuống thần vị.

Cúc cung bái, chủ nhân hai lễ

Bình thân dáng thần, chấp sự một người bưng bồ rượu một người cầm khay đài đứng bên chủ nhân.

Quỵ, Chấp sự cùng quỳ, chủ nhân cầm chai rượu rót vào chén đài.

Loại tửu, chủ nhân bưng rượu lên ngang trán khấn rằng: “xin … từ dưới âm lên thần vị”.

Khấn xong thì đổ rượu lên cái sa – mao.

Phủ phục, chủ nhân một lễ

Bình thân, đứng dậy xuống một bước

Cúc cung bái, lễ hai lễ

Bình thân phục vị xuống một bước

Người thông tán xướng:

Tham thần cúc cung bái lễ hai lễ

Tiến soạn người hộ lễ tiến soạn lên

Sơ hiến lễ chủ nhân đi chữ sơ làm lễ

Người dẫn tán xướng:

Nghệ chú chắc tiền châm tửu chủ tang ra án rót rượu

Nghệ linh toạ tiền chủ tang cùng chấp sự bưng rượu theo lên.

Tế tửu chủ nhân rót vào xa – mao một ít

Điện tửu chấp sự dẫn rượu lên án tiền

Phủ phục hưng bình thân chủ nhân lễ bốn lễ

Người thông tán xướng:

Gai quỵ, độc chúc chủ nhân cùng quỳ với người đọc văn

Phủ phục chủ tang lễ hai lễ

Bình thân

Người thông tán xướng:

Cử ai con cháu đều khóc

Ai chỉ thôi khóc

Người dẫn tán xướng:

Cúc cung bái chủ nhân lễ hai lễ

Người thông tán xướng:

Á hiến lễ chủ nhân đi chữ á làm lễ

Người dẫn tán xướng:

Nghệ trú trác liền trâm tửu, chủ nhân ra đứng rót rượu

Quỵ chủ nhân quỳ

Tế tửu chủ nhân nghiêng rượu xuống xa mao

Điện tửu chấp sự dẫn rượu lên án

Phủ phục chủ tang lễ hai lễ

Thông tán xướng

Chung hiến lễ

Dẫn tán xướng

Nghệ chù chác tiền lai như á hiến lễ

Phục vị chủ tang bước 1 bước

Người thông tác xướng

Hậu thực chấp sự rót thêm 3 chén nữa

Chủ nhẫn dĩ hạ giai xuất con giai ngoảnh mặt phía đông, con gái ngoảnh mặt phía tây, đều đứng yên lặng.

Hạp môn, người hộ lễ khép cửa lại.

Chúc hi hâm, người hộ lễ đứng trước cửa đằng hắng lên 3 tiếng tỏ ý báo động quỷ thần để mở cửa.

Khai môn mở cửa ra

Chủ nhân dĩ hạ phục cựu vị người nào đâu lại đấy

Điểm trà, chấp sự dẫn trà lên

Cáo lợi thành, người chúc từ trong nhà đi ra chỗ chủ nhân nói (lợi thành) ý nói hưởng lễ rồi giả làm lời thần đáp trả chủ nhân.

Từ thần cử ai chủ nhân có phần lui nhường

Cúc cung bái lễ hai lễ

Hưng bình thân

Ai chỉ

Phần chúc hoá văn

Triệt soạn dọn cỗ lễ đi

Lễ tất

Văn tế ngu

Than ôi, sao đổi phương nam, mây tre đất đỏ tưởng đến cù lao chín chữ, bú mớm ba năm, nhớ khi sớm viếng lối thăm trước lần hớn hở, giờ bỗng tây xa bắc trở trong dạ khát khao, đau đớn thay bể thẳm trời cao, nông nỗi ấy cũng thương cùng nhớ, nhân việc thông (huyện) đường quyên cố, lễ ngu yên mộ gọi là dám xin tổ tiên gần xa, đồng lai chứng giám phù hộ trẻ già.
Thượng hưởng.

Lập mộ chí

Lập mộ tri thì lấy viên gạch hay đá khắc chữ vào trôn dưới chân mộ làm di tích.

Lễ tốt  khốc

Lễ tam ngu rồi thì làm lễ tốt khốc là lễ trăm ngày (bách nhật) nếu quàn trong nhà trăm ngày chưa chôn thời chớ nên làm lễ tốt khốc vội, cứ làm lễ chiêu tịch điện như trên văn tế cũng thể nghi tiết tế tốt khốc cũng như tế ngu chỉ có khác là người đọc chúc quỳ bên tả tang chủ mà thôi.

Văn lễ tốt khốc

Than ôi, gió thổi mây bay, được ngày an táng, dám xin linh sảng, tốt khốc lễ bầy, suối vàng có hay, xin người chứng dám,
Thượng hưởng.

Nghi tiết tế phụ

Sau lễ tốt khốc rồi thì làm lễ tế phụ nghĩa là lễ tiên tổ rồi đem thần chủ cha (mẹ) mình vào từ đường, cha thời phụ theo cụ ông, mẹ thờ phụ theo cụ bà.

Người chấp sự xướng:

Tự lập

Tham thần cúc cung bái, chủ nhân vào lễ bốn lễ

Dáng thần, khấn

Quán tẩy nghệ hương án tiền quỵ

Thượng hương, chấp sự đốt hương dẫn lên

Loại tửu, chủ nhân rót rượu

Phủ phục, chủ nhân lễ hai lễ

Tiến soạn, chấp sự dẫn soạn lên

Sơ hiến lễ nghi hiến tàng, chủ nhân đi chữ sơ lên

Thổ thần vị tiền, quỵ trước ban thờ mà quỳ

Tế tửu chấp sự dẫn rượu lên án

Phủ phục chủ nhân lễ hai lễ

Độc chúc, đọc văn

Nghệ tiền khao thần vị tiền, chủ nhân đi lên gần hương án

Tế tửu điện tửu chấp sự dẫn rượu

Phủ phục chủ nhân lễ hai lễ

Giai quỵ chủ nhân lễ hai lễ

Đọc chúc đọc văn tế của vong

Phủ phục chủ nhân lễ hai lễ

Bình thân phục vị lại lên gần án

Á hiến lễ phục vi chủ nhân đi cũng như chữ á lại đứng giữa

Chủ nhân dĩ hạ giai xuất hạp môn mọi người đều đi ra rồi khép cửa lại.

Chúc hy ham khai môn chấp sự mở cửa.

Phục vị người nào vào chỗ ấy

Điểm trà chấp sự dẫn trà chủ nhân theo sau

Cáo lợi thành chấp sự đọc câu ấy

Từ thần cúc cung bái chủ cám ơn không dám nhận, lễ xuống bốn lễ

Phần chúc trước hoá văn tổ sau hoá văn của vong

Phụng tân chủ hoan linh toạ chấp sự rước tân chủ lên, con cháu khóc theo

Ai chỉ thôi khóc

Lễ tất xong hết lễ

Phụ tế văn

Than ôi! nước chảy từ nguồn, người sinh có tổ, nhân nay thần chủ tế phụ gia tiên, phả đề ngũ thế, tương truyền ghi tạc, ngàn thu không phai nét, nhân nay lệ thường bái yết, kính dâng cao tằng tổ khảo ba tuần, xin người đồng tai dáng cách, cố phụ phủ quân.

Lễ tiểu tường đại tường

Người mất chôn rồi, được một năm là lễ tiểu tường, được ba năm là lễ đại tường.

Phép tế tiểu tường và đại tường cũng như tế tốt khốc vậy hom làm lễ tiểu tường thì rước thân chủ lên linh toạ. Chấp sự xướng: Tự lập, Cử ai, Ai chỉ con cháu đều ra chỗ thay áo (trừ phục) mà bỏ từng cái một con giai thì bỏ cái băng bằng so qýân  ở mũ rơm chở đi và một miếng phụ bản đính ở áo ra với cái dạ tràng mạng ở đầu nữa, con gái thì bỏ hết những cái dải lưng bằng da đi, rồi cứ theo nghi lễ tiết hành lễ, lễ đại tường cũng xướng như ở trên kie thì con cháu đều thay cả mũ áo rồi bỏ gậy đi nữa bấy giờ thay mặc toàn cát phục rồi lại chiếu nghi tiết mà làm lễ.

Cáo thần chủ lên từ đường

Chủ nhân với con cháu vào làm lễ từ đường rồi rước các thần vị ra để trên án, thay đổi chữa chữ tằng làm chữ cao chữ tổ làm chữ tằng, chữ khảo tỷ làm chữ tổ khảo tỷ, thay và viết xong chủ nhân mới rước thần; chủ mới (vong mới) rồi vào đặt trên linh toạ từ đường bấy giờ đem ngũ đại thần chủ (thần chủ ông năm đời) ra chôn cạnh mộ người.

Lễ đàm

Lễ đại tường sau một tháng le nữa là lễ đàm. Làm lễ đàm thì chủ nhân mặc mũ áo đỏ quỳ trước ban thờ mà khấn rằng: Con định đến ngày … tháng sau làm lễ đàm để thờ kính cha (mẹ) cẩn cáo (tự tử mỗ … tương dĩ lai nguyệt lại nhật tiến đàm sự vu tiến khảo hoặc tỷ cẩn cáo) rồi lễ hai lễ.

Sau một tháng làm lễ đàm rồi thì hết tang phục, thế là ba năm xong việc bấy giờ sẽ đi ăn uống ngôi thứ trong làng, nếu mới làm lễ đàm vừa xong mà di ăn uống ngôi hương ẩm, vừa thất hiếu với cha mẹ lại mang tiếngg người ta chê cười.

Văn tế đàm

Hết ba tháng lẻ, bầy một lễ đàm, thế là đoạn tang, ba năm trọn hiếu, tế ba tuần rượu xin người chứng minh.

Thượng hưởng.

Văn tế ngày giỗ

Than ôi, tháng lại ngày qua, thì giờ thấm thoát, lòng con khao khát, nhớ lúc nãy còn, công đức đầy non tơ tóc chưa hề báo đáp, nhân nay lễ thường sắp đất, bữa giỗ nhớ ngày trước thềm hương lửa khói bay, kính dâng linh sảng xin người chứng giám khỏi tủi lòng con.
Thượng hưởng

Cải táng (Cất mả)

Hôm nào cất mả (thay áo quan) thì chủ nhân đến cáo nhà thờ từ hôm trước, lúc mở mả cũng phải làm lễ nhà thờ đã rồi lại ra đồng làm lễ thần linh mộ nữa rồi mới mở mả nhà giàu có cũng sắm đủ các đồ khâm liệm tế lễ như lúc người mới mất mà chôn. Nhà nghèo thì dảm tiện đi cất xong thì bày tuần lễ Ngu cho yên hồn phách.

Kinh Thanh điều chép rằng: Mả có ô điền phải cần thay đi chỗ khác.

1. Tự nhiên mả lở mòn hãm nát

2. Thảo mộc vô cớ mà chết khô

3. Trong nhà sanh dâm loạn, hiếm hoi, goá bụa

4. Người nhà phát điên, phát ốm, tai vạ, cháy bại

5. Người của hao tàn sinh thua kiện nhau

Sách Dong hành biên phong thuỷ loại, chép rằng: Khi cất mộ thấy 3 điểm tốt ở huyệt thì đừng cất, lấp lại ngay:

1. Thấy hình như con rồng hay rắn nằm bó trên thây

2. Thấy như tơ hồng bó chặt quan tài

3. Thấy nước dính như keo sữa ấm nóng hoặc có hơi bay như sa mù hay trong huyệt không có kiến mối nước gì mà khô ráo thì là những điềm hay điềm lành cả.

Văn tế cải táng

Than ôi, ba trăm sáu mươi nhăm ngày, thấm thoát tên hay không mấy chốc một năm mười hai tháng nhận được khi cải táng là ngày, nhớ công chín tháng hoài thai, ba năm bú mớm lễ thường kính dâng trước án, suối vàng rửa chút nắm xương khô, nhân nay đã vẹn nấm mồ đất đỏ ngàn thu hồn khoái lạc, lòng thành lễ bạc rượu tế ba tuần, xin người phối hưởng soi xét lòng trần.
Thượng hưởng.

digg delicious stumbleupon technorati Google live facebook Sphinn Mixx newsvine reddit yahoomyweb