Tử Vi Với VÒNG TRÀNG SINH

VÒNG TRÀNG SINH

Thiên Lương an vòng Tràng Sinh với cung khởi tùy thuộc vào Âm Dương, Mộ phải cư Mộ địa (Thìn Tuất Sửu Mùi), làm sao cho Dương Nam âm Nữ thì Tràng Sinh ở Tứ Sinh (Dần Thân Tỵ Hợi), Đế vượng ở Tứ chính (Tí Ngọ Mão Dậu), còn Âm Nam Dương Nữ thì Tràng Sinh ở Tứ Chính, Đế Vượng ở Tứ sinh. Như vậy Cục Hỏa Thủy Kim Mộc Dương Nam Âm Nữ thì khởi tại Dần Thân Tỵ Hợi, nhưng Âm Nam Dương Nữ thì khởi tại Tí Ngọ Mão Dậu. Còn cục Thổ thì cụ Thiên Lương khởi tại Dần Ngọ, Dương Nam Âm Nữ khởi tại Dần, Âm Nam Dương Nữ khởi tại Ngọ)

Vòng Tràng Sinh bao gồm:

Tràng sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng .

Đây là một vòng luân chuyển khép kín, nối liền quá khứ, hiện tại và tương lai.

Vì vòng Tràng Sinh được an căn cứ theo cục, nghĩa là từ năm sinh (gồm đầy đủ Can Chi) mà tính ra hành nạp âm của tháng sinh mà cung Mệnh rơi vào trên địa bàn, hành nạp âm nay được gọi là cục, nên cụ Thiên Lương nói rằng Vòng Tràng Sinh là hình bóng hợp nhất của 2 vòng Thái Tuế (chỉ căn cứ vào chi của năm sinh, Địa Chi) và Lộc Tồn (chỉ căn cứ vào can của năm sinh, Thiên Can)), được sắp xếp theo “cục” của tuổi ở vị trí an Mệnh. Vòng Tràng Sinh chỉ sự chuyển vận từ thịnh đến suy của các cung và đại vận luân lưu để nhắc nhở cho thế nhân được biết lẽ thiệt hơn để mà huớng dẫn cuộc sống và xử thế. Người có số đang diễn hành trong cảnh nào tự biết mà dấn thân tìm đường để sống.

Đây là vòng có liên quan đến phần tinh thần, liên quan đến cách xử thế của cá nhân trong cuộc đời. Đay là vòng giáo lý nhắc nhở cá nhân sử thế cho dù ở vào hòan cảnh thịnh hay suy.

Theo cách sắp xếp các sao của vòng Tràng Sinh thì cả Thân và Mệnh sẽ hoặc rơi vào Sinh Vượng Mộ, Dục Suy Tuyệt, hoặc rơi vào Đới Bệnh Thai, Quan Tử Dưỡng. Điều này cũng giống như Mệnh Thân đều hoặc nằm chung cùng cung Âm hoặc cung Dương. Do đó cụ Thiên Lương đã phân chia âm dương cho vòng Tràng sinh. Theo cụ, vòng Tràng Sinh có hai mặt Âm Dương:

Dương: Sinh Vượng Mộ, Dục Suy Tuyệt (là hai thế chính): đang hòang cư xử được người mến trọng, lẽ thịnh suy chỉ là luân chuyển

Âm: Đới Bệnh Thai Quan Tử Dưỡng (là hai thế phụ): ăn sổi ở thời thì không

Ai tưởng nhớ, giấy rách thì phải có xếp lấy lề. Đam mê rồi cũng không còn gì, nên tu tâm dưỡng tánh.

Vòng Tràng Sinh được sắp xếp vào tam hợp như sau:

Sinh Vượng Mộ: người giữ gìn được nhân nghĩa, đàng hòang, được mến trọng, đến lúc qua đời (Mộ) vẫn được mồ yên mả đẹp, mến trọng (đàng hòang mồ yên)

Dục Suy Tuyệt: ham tục lụy (Dục), ăn sổi ở thì, đua chen đến lúc tàn tạ (Suy) không ai nhắc đến (Tuyệt) (vội ham tàn tích)

Đới Bệnh Thai: đời chỉ là giấc mộng vàng, từ lúc áo mão căn đai (Quan Đới) đến ốm đau bệnh họan (Bệnh) chỉ là thịnh (Quan Đới) suy (Bệnh) luân kiếp (Thai, là tái sinh) (thịnh suy hòan dương)

Quan Tử Dưỡng: đời đã được hãnh diện (Lâm Quan) đến chết (Tử) cũng phải tu dưỡng (Dưỡng) tâm tính như tờ giấy rách nát cũng gấp giữ cho nề nếp (giấy rách giữ lấy lề)

Khi được sắp xếp vào Tam hợp thì vẫn giữ được ý nghĩa của 12 giai đọan vận chuyển liên tục, thay đổi là tùy Mệnh Thân đóng ở vị trí nào vẫn cho người đời một bài học triết lý răn dạy để xử thế. Tràng Sinh là bước đường dài từ lúc thụ thai trong bụng mẹ đến ngày thành nấm mồ trong mộ địa tuyệt tích, lấy trung bình là 60 năm hoa giáp, dù làm vương tướng gì thì cũng gặp cảnh thịnh suy luôn phiên diễn bày. Tòan bộ vòng là một triết lý khuyên đời xử thế: đường hòang cư xử được người qúi mến, lẽ thịnh suy chỉ là luân chuyển, ăn sổi ở thì thì không ai tưởng nhớ, giấy rách phải giữ lấy lề. Người có số đang hiện ở trong cảnh nào tự mà dấn thân tìm đường mà sống. Mỗi chữ trong vòng tràng sinh là một giai đọan đường đời (là 10 năm nếu xét theo đại hạn). Mệnh ở Sinh hay Vượng đi đến Bệnh hay Tử thì đương số phải hiểu lẽ thịnh đã qua, nay gắng chịu cảnh bỉ cực. Bản chất là đường hòang thấy đạo mồ yên mã đẹp (Sinh Vượng) là quí, cũng không thể tránh được thời tan tạ (Bệnh Tử)
Theo Thiên Lương tam hợp Sinh Vượng Mộ cũng đem lại sự thịnh đạt không khác gì tam hợp Tuế Phủ Hổ, và để được huởng Sinh Vượng Mộ một cách tòan diện, mỹ mãn thì chỉ có người thuận lý Âm Dương (Dương Nam và người Âm Nữ) được huởng Sinh Vượng Mộ một cách trọn vẹn với điều kiện phải là:

Dương Nam: Tuổi Thân Tí Thìn, cục Thủy

Tuổi Dần Ngọ Tuất, cục Hỏa hay cục Thổ (chú ý Thiên Lương khởi vòng tràng sinh cho cục Thổ tại Dần hoặc Ngọ)

Âm Nữ: Tuổi Tỵ Dậu Sửu, cục Kim

Tuổi Hợi Mão Mùi, cục Mộc

Còn tuổi Âm Nam Dương Nữ thì huởng chữ Mộ đây ý nghĩa không tọai chí, nghĩa là người nghịch Âm Dương (Âm Nam, Dương Nữ) thì huởng không đáng kể, tuy nhiên mỗi khi đáo vận Sinh Vượng Mộ thì cũng sẽ được hanh thông ít nhiều, nhưng thực chất không có gì đáng kể.

Tuổi Tứ Sinh và Thủy mệnh được đặc cách hưởng Tràng Sinh lâu dài, bền vững

Tuổi Tứ Chính và Kim mệnh được đặc cách hưởng Đế vượng một cách thịnh vượng

Tuổi Tứ Mộ được đặc cách hưởng Hoa Cái (danh dự) hưởng đến mức độ nào tùy hành Mệnh sinh khắc với hành kim của Hoa Cái.

Đại vận có Sinh Vượng Mộ, nếu là người thuận lý Âm Dương và trúng tuổi (như đã đề cập bên trên), cuộc sống thuờng gặp những thăng mây thuận bước, còn nghịch lý Âm Dương thì chỉ còn là phấn son tô điểm, trên thực tế không đáng kể.

digg delicious stumbleupon technorati Google live facebook Sphinn Mixx newsvine reddit yahoomyweb